hoc vi tinh

thiết kế website tại đà nẵng

thiết kế website tại đà nẵng

Phương án bố trí nghề nghiệp, quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản đầm phá
Developed by JoomVision.com

Liên kết website

Liên kết-Quảng cáo

Trung tâm Thông Tin Thư viện

Khoa Môi trường

Bộ môn Bản đồ, viễn thám và GIS

Phương án bố trí nghề nghiệp, quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản đầm phá

Sau khi có Quyết định số 1142/QĐ-UBND ngày 06 tháng 6 năm 2011 về việc bố trí, sắp xếp lại nò sáo trên toàn vùng đầm phá Tam Giang tỉnh Thừa Thiên Huế; các đơn vị, tổ chức, hội...đã tiến hành phối hợp thực hiện đồng bộ các nội dung theo Quyết định và theo thực tế từng địa phương. Đến nay, công tác sắp xếp, giải tỏa cơ bản hoàn thành, mọi hoạt động đánh bắt, khai thác của ngư dân đi vào ổn định, quá trình trao quyền quản lý mặt nước cho các Chi hội Hội nghề cá quản lý đã và đang phát huy vai trò và hiệu quả trong việc quản lý nguồn tài nguyên, vùng mặt nước trên đầm phá được giao, nhất là tại các Khu bảo vệ thủy sản.

Tại các địa bàn được trao quyền quản lý, mỗi vùng chức năng có một quy chế riêng biệt quy định các loại nghề đươc phép hoạt động và phương thức hoạt động. Nguyên tắc chung áp dụng ở Chi hội Hội nghề cá thôn định cư Phú Đa như sau:

1. Quy chế quản lý tài nguyên đầm phá đối với mỗi vùng chuyên biệt

            a) Hội viên chi hội nghề cá thôn định cư TT Phú Đa Phú Đa mới có quyền sử dụng nghề nò sáo, nghề đáy, nghề chuôm, lừ xếp để khai thác trên vùng nước được cấp quyền và phải đăng ký ngư cụ và đóng đầy đủ phí bảo vệ nguồn lợi cho Chi hội đúng theo quy định.

            b) Riêng các nghề di động (lưới bén, lưới rê 3 lớp, lưới tôm, lưới cua, lưới thệ, câu, trũ, soi, khai thác rong câu) và các nghề cố định khác (rớ giàn, dạy) thì hội viên và người ngoài chi hội (trong xã, ngoài xã) được phép vào khai thác tại vùng nước được cấp quyền. Tuy nhiên phải đăng ký số lượng ngư cụ và đóng phí bảo vệ nguồn lợi đúng theo quy định.

            c) Những người được phép khai thác trên vùng mặt nước của chi hội phải tuyệt đối tuân theo pháp luật hiện hành, các quy định của các cấp chính quyền và quy chế của chi hội đề ra.     

1.1.Vùng thủy lộ, vùng đệm ranh giới xã và đệm ven bờ đầm phá

            - Không được phép tiến hành các hoạt động NTTS và đặt ngư cụ cố định trong phạm vi thủy lộ để tàu thuyền lưu thông được dễ dàng. Không cho phép khai thác di động, nếu ngư cụ đó cản trở tàu thuyền đi lại.

            - Không được phép tiến hành các hoạt động NTTS và đặt ngư cụ cố định trong vùng đệm ranh giới các xã, để tránh mọi xung đột liên quan đến ranh giới các xã.

            - Không được phép tiến hành các hoạt động NTTS và đặt ngư cụ cố định trong vùng đệm ven bờ đầm phá (ngoại trừ rớ, chuôm và nuôi cá lồng được bố trí theo kế hoạch phân vùng) để đảm bảo lưu thông nước và bảo vệ cá con.

 1.2.Vùng bảo vệ thủy sản

* Các hoạt động nghiêm cấm:

- Cấm các hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản (trừ 3 trộ chuôm của Chi hội được bố trí và khai thác trong khu bảo vệ với 2 lần/năm)

- Không được thả trâu bò, gia súc, gia cầm trong vùng bảo vệ; 

* Các hoạt động được phép:

- Hoạt động giao thông thủy được phép qua lại vô hại nhưng không được dừng tàu thuyền lại trong vùng bảo vệ;

- Hoạt động du lịch sinh thái được phép khi có sự tham gia và giám sát của chi hội nghề cá thôn định cư TT Phú Đa Phú Đa;

- Hoạt động tái tạo nguồn lợi thủy sản, thả chà rạo trong khu bảo vệ phải được cơ quan chuyên môn đồng ý bằng văn bản.

1.3 Vùng nò sáo

            - Vùng nò sáo là vùng dành hoàn toàn cho hoạt động nò sáo, không được phép tiến hành các ngư cụ khai thác khác và NTTS;

            - Chỉ có hội viên chi hội nghề cá thôn định cư TT Phú Đa mới được phép làm nghề nò sáo trên vùng mặt nước của Chi hội;

            - Số lượng nò sáo cho phép trên mặt nước chi hội là 2 trộ, được bố trí trên 1 dãy vùng theo đề án quy hoạch của huyện Phú Vang. Số lượng nò sáo,  kích thước của nò sáo ở mỗi dãy cụ thể như sau:

so do 1.3

Số lượng bố trí nghề nò sáo theo dãy:

Dãy

Diện tích (ha)

Số trộ

Chiều dài tối đa củacánh sáo (m)

Độ rộng tối đa của miệng sáo (m)

01

3,1

2

200

80

Cộng

 

2

 

 

 

 

            - Không được cơi nới, mở rộng diện tích mặt nước đã được quy định cho nghề sáo;

            - Khoảng cách tối thiểu giữa hai cánh sáo liền kề là 15m;Kích cỡ mắt lưới tối thiểu (của Nò) là 2a = 18 mm;

            - Sáo phải đặt theo hình chữ V, tức là chỉ có hai cánh (nò sáo được định nghĩa là hình tam giác được tạo bởi nò và hai cánh sáo – xem hình dưới đây):

1.4 Vùng đáy

- Tổng số miệng đáy giảm là từ 155 miệng hiện tại xuống còn 95 miệng (giảm tương đương  38,8%), được bố trí trên 06 dãy. Số lượng cụ thể từng dãy như sau:

Số lượng  miệng đáy bố trí theo dãy

Số hiệu dãy

Số miệng đáy cho phép

Dãy 1

25

Dãy 2

18

Dãy 3

11

Dãy 4

5

Dãy 5

10

Dãy 6

26

TỔNG CỘNG

95

 

- Không được cơi nới, mở rộng diện tích mặt nước đã được quy định cho nghề đáy ;

- Vùng đáy chỉ dành cho hoạt động khai thác của đáy, không được phép tiến hành các hoạt động khai thác và NTTS;

- Chỉ có hội viên chi hội thôn định cư TT Phú Đa mới được phép làm nghề  đáy;

            - Tuân thủ theo đề án quy hoạch của huyện Phú Vang;

            - Không được cơi nới, mở rộng diện tích mặt nước đã cấp cho nghề đáy;

            - Kích thước mắt lưới tối thiểu (phần đụt) dùng khai thác các loại thủy sản thương phẩm 2a = 18mm;

            - Tất cả các hoạt động khai thác và NTTS phải cách miệng đáy tối thiểu là 50m;

1.5 Vùng nuôi lồng

            - Vùng nuôi cá lồng tại vùng nước Chi hội quản lý được chia thành 3 vùng, vị trí và số lượng lồng như sau:

Số lượng lồng được bố trí theo vùng

Vùng

Số lượng lồng (cái)

Vùng 1 (Viễn Trình)

20

Vùng 2 (bến đò Viễn Trình)

30

Vùng 3 (Định cư lương viện)

20

Tổng

70

 

- Vùng nuôi lồng chỉ dành cho hoạt động nuôi lồng – không được phép tiến hành các hoạt động khai thác và NTTS khác;

            - Chỉ có hội viên chi hội thôn định cư TT Phú Đa mới được phép nuôi cá lồng;

            - Không thả nuôi các loài thủy sản bị các nghành chức năng cấm nuôi  trên vùng mặt nước của chi hội; Muốn nuôi một loài cá mới phải báo cáo với chi hội, BCH sẽ đề nghị các cơ quan chức năng  thẩm định loài đó cho phép nuôi mới được thả nuôi;

 - Lồng chỉ được đặt trong vùng được quy hoạch, vị trí cụ thể do chi hội sắp xếp;

            - Kích thước lồng là 3m x 3m x 3m;

            - Các lồng được bố trí theo từng cụm, mỗi cụm 4 lồng, lồng cách lồng tối thiểu 1m, cụm cách cụm tối thiểu 5m. Các cụm được bố trí theo từng  hàng, hàng cách hàng tối thiểu là 8m;

            - Vật liệu làm lồng cho phép là lưới nylon và khung sắt hoặc gỗ;

            - Không được thải các loại rác từ sinh hoạt, hoá chất độc hại, dầu máy trong vùng nuôi lồng;

            - Ghe thuyền trong chi hội phải chạy đúng luồng chi hội quy định, phải neo đậu đúng chỗ chi hội quy định nhằm tránh ảnh hưởng tiêu cực đối với hoạt động nuôi lồng;

Sơ đồ bố trí lồng

so do 1.5

- Bất kỳ trường hợp bệnh hoặc dấu hiệu bệnh nào đều phải được báo cáo lập tức cho CHNC trong vòng 12 giờ kể từ khi phát hiện ra bệnh nhằm tránh lây lan bệnh và gây tổn thất  cho những ngư dân khác;

            - Khuyến khích hội viên sử dụng các loại thức ăn mới  thay thế dần thức ăn tươi như hiện nay;

            - Thức ăn tươi dư thừa phải được thu gom trước 4h kể từ lúc cho ăn, tránh gây ô nhiễm cho vùng nuôi;

1.6. Vùng khai thác chung

             Vùng khai thác chung ở chi hội thôn định cư Phú Đa cho phép các nghề khai thác gồm chuôm, lừ, lưới bén, lưới tôm, lưới thệ, câu tay, dạy, rê 3 lớp và soi tay (không sử dụng điện), khai thác rong câu (bằng tay hoặc bằng nhủi). Những ngư cụ di động nào không đề cập trong quy định này thì không được phép khai thác, muốn cho phép thêm nghề nào hoạt động chi hội phải đề xuất lên UBND thị trấn thông qua và phải được UBND huyện phê duyệt bằng văn bản;

Tất cả ngư cụ di động khai thác phải cách miệng sáo, vùng nuôi cá lồng và chuôm là 20m, cách miệng đáy tối thiểu là 50m và cách bờ đê hạ triều 10 mét

a, Nghề chuôm:

            - Chỉ có hội viên chi hội nghề cá thôn Định cư TT Phú Đa mới được phép làm nghề  chuôm;

            - Giảm từ 29 trộ còn lại 27 trộ chuôm bố trí như quy hoạch (3 trộ được bố trí trong khu bảo vệ và được khai thác 2 lần/năm do BCH tổ chức quản lý và khai thác) (bảng đồ phụ lục 7), không tăng thêm số lượng, tọa độ cụ thể ở của các trộ chuôm được xác định cụ ở Phụ lục

            - Kích thước tối đa một trộ chuôm là dưới 80 m2;

            -Trộ cách trộ tối thiểu là 100 m;

            - Chuôm được làm bằng các loại tre, nè;

            - Kích thước mắt lưới tối thiểu của vàng lưới dùng để thu hoạch nghề chuôm là 2a = 18mm;

b, Nghề lừ:

            - Chỉ có hội viên chi hội nghề cá thôn Định cư TT Phú Đa mới được phép làm nghề  lừ xếp.

            - Đến cuối năm 2013 số lượng lừ xếp giảm xuống còn  2.500 cái, năm 2014 số lượng lừ xếp được giảm còn là 2.000 cái và đến năm 2015, số lượng lừ tối đa cho phép khai thác ở vùng mặt nước của chi hội là 1.820 cái.

            - BCH dự kiến phân bổ số lượng cụ thể cho các hội viên và đưa ra hội nghị toàn thể chi hội nhất trí thông qua.

            - Chiều dài tối đa của mỗi lừ là 10m;

            - Kích thước mắt lưới tối thiểu của lưới lừ là 2a = 18mm;

            - Kích cỡ khung lồng sắt hình chữ nhật là 34cm (rộng) và 22 cm(cao);

            - Không được đặt lừ ở nơi nước có độ sâu dưới 0,8 m;

            - Ban ngày phải có phao báo hiệu điểm đặt lừ và ban đêm có phao báo sáng để dễ nhận biết trên mặt nước;

- Không được sử dụng hóa chất cấmđể giặt lừ.

c, Nghề lưới bén:

            - Tổng số tay lưới tối đa được khai thác trên vùng mặt nước của chi hội  là 1.800 tay;

- BCH dự kiến phân bổ số lượng cụ thể cho các hội viên và đưa ra hội nghị toàn thể chi hội nhất trí thông qua;

            - Chiều dài tối đa mỗi tay lưới là 50m;

            - Kích thước mắt lưới tối thiểu là 2a = 40mm;

            - Hoạt động nghề lưới vào ban ngày phải thả phao ganh, vào ban đêm phải có phao đèn sáng báo hiệu vị trí và hướng thả lưới.

d, Nghề lưới tôm:

            - Tổng số tay lưới tôm tối đa được khai thác trên vùng mặt nước của chi hội  là 200 tay lưới;

            - BCH dự kiến phân bổ số lượng cụ thể cho các hội viên và đưa ra hội nghị toàn thể chi hội nhất trí thông qua;

            - Chiều dài tối đa mỗi tay lưới là 50m;

            - Kích thước mắt lưới tối thiểu là 2a = 18mm;

            - Hoạtđộng nghề lưới vào ban ngày phải thả phao ganh, vào ban đêm phải có phao đèn sáng báo hiệu vị trí và hướng thả lưới.

d, Nghề lưới thệ:

            - Tổng số tay lưới tôm tối đa được khai thác trên vùng mặt nước của chi hội  là 100 tay;

            - BCH dự kiến phân bổ số lượng cụ thể cho các hội viên và đưa ra hội nghị toàn thể chi hội nhất trí thông qua;

            - Chiều dài tối đa mỗi tay lưới là 50m;

            - Kích thước mắt lưới tối thiểu là 2a = 18mm;

            - Hoạtđộng nghề lưới vào ban ngày phải thả phao ganh, vào ban đêm phải có phao đèn sáng báo hiệu vị trí và hướng thả lưới.

e, Nghề lưới cua, ghẹ:

            - Tổng số tay lưới tôm tối đa được khai thác trên vùng mặt nước của chi hội  là 500 tay;

            - BCH dự kiến phân bổ số lượng cụ thể cho các hội viên và đưa ra hội nghị toàn thể chi hội nhất trí thông qua;

            - Chiều dài tối đa mỗi tay lưới là 50m;

            - Kích thước mắt lưới tối thiểu là 2a = 28 mm;

            - Hoạtđộng nghề lưới vào ban ngày phải thả phao ganh, vào ban đêm phải có phao đèn sáng báo hiệu vị trí và hướng thả lưới.

f, Khai thác rong câu:

            -  Hội viên của chi hội và người ngoài chi hội được phép khai thác rong câu;

            - Chỉ cho phép khai thác rong câu bằng tay hoặch bằng nhủi, không được sử dụng thuyền máy kéo lưới để khai thác rong câu;

            - Một tháng cho phép khai thác rong câu hai lần vào ngày 10 và 25(AL);

            - Mỗi lần cho phép tối đa 5 thuyền vào khai thác;

            - Trước khi khai thác phải đăng ký với chi hội và nộp phí đầy đủ mới được phép khai thác;

            - Chi hội phải thông báo cho các hộ NTTS đóng cống vào các ngày khai thác rong câu.

g. Nghề rớ giàn:

- Chỉ có hội viên chi hội nghề cá thôn Định cư TT Phú Đa mới được phép làm nghề  rớ giàn

- Số lượng rớ giàn hạn chế không quá 7 trộ

- Hoạt động rớ giàn vào ban đêm phải có đèn chiếu sáng để không làm ảnh hưởng tàu thuyền qua lại.

2. Quy chế về hệ thống phí bảo vệ nguồn lợi

            - Sau khi được cấp quyền khai thác, chi hội tổ chức thu phí bảo vệ nguồn lợi thủy sản đối với tất cả các ngư cụ hoạt động khai thác trên mặt nước của chi hội. Phí này được hội viên tình nguyện đóng góp theo từng loại nghề với mục đích sử dụng cho việc tuần tra, giám sát ngư trường, bảo vệ môi trường và tái tạo nguồn lợi thủy sản trong vùng mặt nước được giao. Mức phí thu đối với mỗi loại ngư cụ được toàn thể hội viên trong chi hội cùng nhất trí, cụ thể như sau:

Quy định mức phí thu đối với mỗi loại ngư cụ

Ngư cụ

Phí bảo vệ nguồn lợi (VND/năm)

Hội viên

Ngoài hội viên

Nò sáo

300.000/trộ

Không được phép

Đáy

20.000/miệng

Không được phép

Lừ

3.000/Cái

Không được phép

Lưới rê các loại (bén, tôm, cua, ghẹ, thệ, rê 3 lớp…)

50.000đ/hộ

100.000đ/hộ

Nuôi lồng

50.000/Lồng

Không được phép

Khai thác rong câu

50.000/đò 2 khối

200.000/đò 2 khối

400.000đ/đò trên 3 khối

Rớ giàn

100.000 đ/trộ

Không được phép

Câu

Miễn phí

Miễn phí

Dạy

Soi

 

*Ghi chú:

            - Khai thác rong câu nộp phí theo từng đợt khai thác

            - Các hội viên là các hộ nghèo theo tiêu chuẩn của Nhà Nước quy định sẽ  được giảm 50% mức phí trên.

            - Khuyến khích Chi hội tổ chức quản lý thu, chi quỹ này theo chứng từ quy định của nhà nước và đúng theo quy định của điều lệ chi hội.

            - Báo cáo tài chính mỗi năm sẽ do BCH chuẩn bị, trong đó trình bày chi tiết tình hình thu, chi và số dư của quỹ trước hội nghị toàn thể chi hội và báo cáo lên UBND Thị trấn, Hội nghề cá tỉnh Thừa Thiên Huế.

            - BCH chi hội chuẩn bị kế hoạch ngân sách cho năm sau để thông qua hội nghị toàn thể chi hội vào cuối mỗi năm và báo cáo lên UBND Thị trấn.

            - Hệ thống phí bảo vệ nguồn lợi trên đây có thể thay đổi tùy theo tình hình thực tế  (nghề khai thác hiệu quả hay không), được hội nghị toàn thể CHNC nhất trí và được UBND Thị trấnthông qua.

             - Việc thu phí bảo vệ nguồn lợi có thể được chi hội xem xét hủy bỏ nếu Nhà nước ban hành các quy định về thuế Tài nguyên hoặc các loại phí thu trực tiếp đối với từng loại nghề để tránh thu chồng nhiều loại phí trên một ngư cụ khai thác.

3. Quy chế xử lý vi phạm

            - Khi phát hiện có sự vi phạm quy chế trong mặt nước chi hội Phú Đa, tùy theo mức độ vi phạm CHNC sẽ xử lý từ phê bình nhắc nhở, hoặc sẽ đề xuất với cơ quan có thẩm quyền xử phạt theo Nghị định 31/2010/ND-CP.

            - Tất cả các trường hợp vi phạm sẽ báo cáo lên BĐQL trong các cuộc họp định kỳ.

            - 100% tiền thu từ hội viên vi phạm quy chế sẽ được sử dụng làm quỹ của CHNC phục vụ công tác quản lý nghề cá và phát triển hội

 Hội viên vi phạm:

            - Lần thứ nhất: đội tuần tra lập biên bản phê bình nhắc nhở trước hội viên;

            - Lần thứ hai: đội tuần tra lập biên bản, hội viên vi phạm phải nộp 200.000đ vào quỹ chi hội để phục vụ công tác tuần tra và giám sát ngư trường;

            - Lần thứ ba, bị khai trừ ra khỏi chi hội và đề xuất với cơ quan có thẩm quyền xử phạt theo quy định hiện hành của Nhà nước.

 Người ngoài chi hội vi phạm:

            - Lần thứ nhất: đội tuần tra lập biên bản, nhắc nhở;

            - Lần thứ hai, chi hội sẽ đề xuất với cấp có thẩm quyền(Công an xã, UBND Thị trấn hoặc cấp cao hơn) xử phạt theo quy định hiện hành của Nhà nước.

Đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng: như khai thác bằng xung điện, cào hến bằng thuyền máy, dùng hóa chất huỷ hoại môi trường, ăn cắp tài sản của hội viên, thì đội tuần tra sẽ lập tức phối hợp với Công an, thị đội và các lực lượng Kiểm ngư chuyên nghành để kịp thời ngăn chặn và xử phạt theo quy định hiện hành của Nhà nước.

4. Quy định về tuần tra giám sát

4.1 Chi hội thành lập 03 tổ tự quản, nhiệm vụ cụ thể:

            a) Tổ chức tự quản trên địa bàn của tổ mình, tuyên truyền vận động cộng đồng thực hiện quy chế của chi hội đề ra;

            b) Theo dõi tình hình thực hiện quy chế trên địa bàn, đặc biệt là tình hình hoạt động của các nghề khai thác bị cấm như rà điện, xiếc điện, cào hến bằng thuyền máy và tình hình trộm cắp tài sản của hội viên để báo cáo thường  xuyên cho BCH chi hội;

            c) Chấp hành sự điều động của BCH khi cần thiết;

4.2. Quy định hoạt động của đội tuần tra:

            a) Đội tuần tra được UBND Thị trấn ra quyết định thành lập theo đề xuất của chi hội;

            b) Hoạt động dưới sự điều phối của Ban chấp hành CHNC;

            c) Phải chấp hành sự điều động của BCH khi có yêu cầu tuần tra;

            d) Phải đảm bảo bí mật, đúng giờ, đúng nơi quy định, có đủ các trang bị, dụng cụ được phân công;

            e) Phải đeo băng đỏ khi tham gia tuần tra;

            f) Phải thực hiện đúng Quy chế và Điều lệ chi hội cũng như pháp luật của Nhà nước;

4.3.Trách nhiệm của BCH chi hội:

            a)Tổ chức tuần tra định kỳ 2 lần/ tháng, và tuần tra đột xuất tùy  theo tình hình cụ thể ở trong địa bàn của chi hội . Mỗi lần tuần tra có ít nhất là 2 thành viên trong BCH cùng tham gia với đội tuần tra;

            b) Đề xuất với BĐQL để huy động lực lượng Công an, Thị đội phối hợp tham gia nếu thấy cần thiết;

            c) Cung cấp cho các hội viên các số điện thoại của BCH, Công an, thị đội… để khi cần thiết hội viên có thể liên lạc;

            d) Điều động nghe thuyền tham gia tuần tra;

            e) Điều động các tổ tự quản hỗ trợ ứng phó khi cần thiết.       

4.4.Phương tiện và kinh phí tuần tra:

            a) Tất cả thuyền bè trong chi hội đều phải phục vụ cho công tác tuần tra của chi hội;

            b) BCH phải có kế hoạch điều động nghe thuyền hợp lý và linh động. Khi được điều động các hội viên phải tuyệt đối tuân theo;

            c) Kinh phí cho công tác tuần tra: kinh phí tuần tra được trích ra từ các nguồn quỹ của chi hội (phí hội viên, phí bảo vệ nguồn lợi, hoạt động kinh tế……). BCH dự trù mức chi phí về tiền dầu cho thuyền đi tuần tra, tiền nước uống cho đội tuần tra để đưa ra hội nghị toàn thể chi hội thông qua;

4.5 Quy chế quản lý xung đột:

            Xung đột xảy ra thuộc thẩm quyền chi hội thì BCH chi hội sẽ căn cứ điều lệ, quy chế để giải quyết. Những xung đột mà CHNC xét thấy vượt quá thẩm quyền thì sẽ chuyển lên Ban đồng quản lý, UBND Thị trấn giải quyết, hoặc xin ý kiến chuyển tiếp lên cấp có thẩm quyền để xử lý theo pháp luật.

4.6 Phối hợp với các quy định khác của CHNC:

            Các quy chế hiện hành khác của CHNC trái với các quy định trong phương án này sẽ bị loại bỏ.

4.7 Điều chỉnh phương án:

            Xét thấy cần thiết, CHNC, UBND Thị trấn  hoặc bất kỳ cơ quan nào có liên quan đều có thể đề xuất điều chỉnh phương án này. Việc điều chỉnh phải được chi hội thôn định cư xã Phú Đa nhất trí, UBND Thị trấn Phú Đa thông qua và được UBND huyện Phú Vang phê duyệt.

Phạm Văn Thiện, Chi cục KTVBVNLTS Thừa Thiên Huế