hoc vi tinh

thiết kế website tại đà nẵng

thiết kế website tại đà nẵng

Tổng kết công tác giải tỏa, sắp xếp nò sáo trên đầm phá Tam Giang – Cầu Hai ở huyện Phú Vang
Developed by JoomVision.com

Liên kết website

Liên kết-Quảng cáo

Trung tâm Thông Tin Thư viện

Khoa Môi trường

Bộ môn Bản đồ, viễn thám và GIS

Tổng kết công tác giải tỏa, sắp xếp nò sáo trên đầm phá Tam Giang – Cầu Hai ở huyện Phú Vang

Cuối năm 2013, UBND huyện Phú Vang cùng với các đơn vị chức năng liên quan như Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN PTNT), Phòng Tài nguyên và Môi trường (TNMT), Chi cục Khai thác (KT) và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản (BVNLTS), Hội nghể cá tỉnh, các tổ chức thực hiện dự án và một số bên liên quan khác đã tổ chức tổng kết đánh giá công tác giải tỏa, sắp xếp nò sáo trên đầm phá Tam Giang, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Những vấn đề liên quan đến công tác giải tỏa sắp xếp nò sáo được thể hiện thông qua những nội dung chính sau:

          I. Những thuận lợi và khó khăn 

          1. Thuận lợi

          - Được UBND Tỉnh phê duyệt Quyết định số 1142/QĐ-UBND ngày 06 tháng 6 năm 2011 về việc “Phê duyệt kế hoạch giải tỏa, sắp xếp lại nò sáo trên vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai thuộc huyện Phú Vang” và cấp kinh phí cho UBND Huyện trong quá trình thực hiện. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện tuyên truyền, vận động người dân thực hiện việc tiếp nhận hỗ trợ kinh phí sắp xếp, đền bù, ổn định đời sống, giải quyết khó khăn trong quá trình thực hiện.

          - Huyện ủy ban hành Chỉ thị số 08-CT/HU ngày 15/7/2011 về việc “Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với công tác giải tỏa, sắp xếp lại nò sáo trên vùng đầm phá năm 2011” cho các địa phương; huy động cả hệ thống chính trị tập trung chỉ đạo kết hợp công tác tuyên truyền vận động đến tận hộ ngư dân và được đa số ngư dân đồng tình ủng hộ tham gia thực hiện.

- UBND Huyện đã xây dựng Kế hoạch thực hiện số 426/KH-UBND ngày 23/6/2011 về việc “Triển khai thực hiện giải tỏa, sắp xếp lại nò sáo trên vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai thuộc huyện Phú Vang”; Thành lập ban chỉ đạo và tổ giúp việc trực tiếp chỉ đạo và thực hiện. 

- Dự án IMOLA hỗ trợ huyện trong quá trình định vị, lập bản đồ hiện trạng, xây dựng phương án và lập bản đồ quy hoạch - tạo thuận lợi trong việc thực hiện kế hoạch giải tỏa, sắp xếp nò sáo.

- Được sự hỗ trợ của các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, Chi cục Khai thác và BVNLTS, Hội nghể cá tỉnh, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Huế (CSSH), cùng các dự án khác giúp đỡ trong việc củng cố và thành lập các chi hội nghề cá trên địa bàn huyện.

          2. Khó khăn:

          - Bước đầu chưa có quy hoạch nên quá trình thực hiện giải tỏa, sắp xếp nò sáo gặp khó khăn, vừa xây dựng phương án vừa lập bản đồ quy hoạch, dẫn đến mất thời gian, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện.

          - Giải tỏa sắp xếp nò sáo liên quan trực tiếp tới nghề nghiệp, sinh kế của ngư dân nên cần phải có quá trình lâu dài nhằm tuyên truyền vận động, chuyển đổi nghề và bố trí khu vực mới cho các ngư cụ cố định. Đồng thời phải tổ chức nhiều cuộc họp, trao đổi bàn bạc, lấy ý kiến cộng đồng; điều này mất nhiều thời gian và tốn kém chi phí.

- Một số đơn vị được phân công thực hiện chưa chủ động, chưa thực hiện hết  vai trò và trách nhiệm, một số khâu thực hiện chậm so với tiến độ và làm mất lòng tin của người dân. Quá trình thực hiện chủ yếu do Phòng NN%PTNT phối hợp với các dự án, UBND các xã, thị trấn thực hiện.

- Ngoài ra, do những yếu tố khách quan khác như thời tiết không ổn định, nhiều đợt mưa lạnh kéo dài dẫn đến tiến độ thực hiện bị ảnh hưởng.

         II. Đánh giá tình hình thực hiện

1. Kết quả đạt được

- Về công tác xây dựng kế hoạch, thành lập Ban chuyên trách vận động ngư dân thực hiện:

Căn cứ vào Quyết định của UBND tỉnh, UBND huyện đã thành lập Ban chuyên trách, các đơn vị hỗ trợ để trực tiếp hướng dẫn, tham gia thực hiện công tác giải tỏa, sắp xếp nò sáo. Phòng NN&PTNT cùng với các đơn vị hỗ trợ được giao nhiệm vụ xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính công tác giải tỏa, sắp xếp nò sáo và chuyển đổi nghề trên vùng đầm phá thuộc địa bàn huyện. Huyện cũng đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên Ban chuyên trách, đáp ứng yêu cầu thực tế và phù hợp với từng địa bàn.

Tổ chức tham quan học hỏi và rút kinh nghiệm công tác giải tỏa, sắp xếp nò sáo ở huyện Phú Lộc để ứng dụng tổ chức triển khai thực hiện đạt hiệu quả cao. Ngoài ra, tổ chức mở các buổi hội nghị cấp huyện với sự tham gia của cán bộ nòng cốt của các xã, thị trấn, cơ quan liên quan để triển khai Quyết định của UBND tỉnh, Kế hoạch của UBND huyện, các cơ quan chuyên môn, từ đó đưa ra phương án thực hiện có hiệu quả.

          Các thành viên Ban chuyên trách căn cứ kế hoạch và trách nhiệm được phân công về các địa phương tổ chức họp để công bố Quyết định của UBND tỉnh về chủ trương, chính sách hỗ trợ kinh phí và triển khai kế hoạch của huyện, xã, thị trấn đến tận các khu dân cư hộ ngư dân.

Lồng ghép với các hoat động dự án kết hợp công tác thông tin tuyên truyền trên các đài truyền thanh của điạ phương, trên tờ rơi, panel. Tổ chức các cuộc họp tại cộng đồng ngư dân nhằm vận động ngư dân thực hiện các chính sách, chủ trương  của Đảng và Nhà nước. Tổ chức cho ngư dân đăng ký tự nguyện giải tỏa, sắp xếp nò sáo theo kế hoạch của huyện. Những địa phương có số lượng tự nguyện đăng ký tháo dỡ không đủ theo kế hoạch sẽ tiến hành họp toàn bộ ngư dân nhằm thảo luận, bàn bạc, đối thoại đi đến thống nhất các tiêu chí để chọn ra những hộ phải giải tỏa, những hộ phải sắp xếp lại các ngư cụ cố định. Thông qua họp dân, Ban chuyên trách đã rút ra các tiêu chí sắp xếp giải tỏa theo thứ tự ưu tiên; trên cơ sở đó được ngư dân đồng tình, phù hợp với Quyết định 1142/ QĐ-UBND ngày 06 tháng 6 năm 2011  của UBND tỉnh như: Hộ tự nguyện giải tỏa; Hộ có trên 01 trộ sáo sẽ giải tỏa còn 01 trộ; Chủ sáo có 02 trộ sáo ở 2 địa phương khác nhau bị giải tỏa 01 trộ; Trong đại gia đình có 02 trộ sáo trở lên bị giảm 01 trộ; Trộ sáo không tiếp tục đầu tư, không khai thác hoặc khai thác không hiệu quả; Chủ sáo trẻ nên giải tỏa (dưới 30 tuổi, tức là nên dành ưu tiên giữ lại cho hộ  đã tham gia lâu năm); Hộ có đất sản xuất nông nghiệp hoặc có làm nghề cá cố định khác, có ao nuôi thủy sản hoặc nghề lừ hoặc làm nghề khác có thu nhập cao; Hộ không phải thành viên Chi hội nghề cá; Hộ cư trú ngoài địa phương; Hộ có ít đời làm nghề sáo.

- Công tác định vị, lập bản đồ hiện trạng, quy hoạch và cắm mốc bố trí vùng sắp xếp nò sáo:

Quá trình triển khai thực hiện chưa có quy hoạch trước, do đó UBND huyện, Phòng NN&PTNT phối hợp với các địa phương, các ban ngành liên quan, các dự án như IMOLA, CSSH và một số đơn vị khác để tiến hành triển khai, đồng thời vừa xây dựng phương án thực hiện, vừa kiểm tra đo đạc, định vị lập bản đồ hiện trạng nò sáo trên đầm phá toàn huyện. Xây dựng phương án và lập bản đồ qui hoạch, bố trí vùng sắp xếp nò sáo, đảm bảo tính thống nhất trên cơ sở khoa học và theo kinh nghiệm của ngư dân, phù hợp với điều kiện của từng vùng nhằm nâng cao hiệu quả trong khai thác.

Nò sáo sắp xếp lại đảm bảo các nguyên tắc: Dựa vào hệ thống pháp luật quản lý thủy sản và các quy định của các ngành liên quan như: giao thông thủy, môi trường...; Quyết định số 3677/QĐ-UB ngày 25/10/2004 của UBND tỉnh về việc phê duyệt “Quy hoạch tổng thể quản lý khai thác thủy sản vùng đầm phá Thừa Thiên Huế đến năm 2010” vàQuyết định số 4260/2005/QĐ-UB ngày 19/12/2005 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc ban hành “Quy chế quản lý khai thác thủy sản đầm phá Thừa Thiên Huế”

Các tiêu chí sắp xếp về số lượng, kích cỡ, mật độ cho nghề nò sáo:

+ Không vi phạm quy định về giao thông thủy nội địa.

+ Phải để luồng lạch cho các loài thủy hải sản di cư trong mùa sinh sản tối thiểu 1/3 bề rộng của cửa lạch.

+ Khoảng cách tối thiểu giữa 2 hàng trộ nghề là 150m.

+ Khoảng cách giữa 2 cánh sáo liền kề cùng hàng là 15m.

+ Khoảng cách cánh sáo cách bờ tối thiểu là 100 m.

+ Mắt lưới tối thiểu của nò sáo, cánh sáo 2a = 18mm.

- Sau khi đã thống nhất các vùng quy hoạch lại nò sáo, UBND các xã, thị trấn tiến hành đúc 138 cọc bê tông cắm mốc định vị các vùng quy hoạchcụ thể nhằm thực hiện đúng theo quy hoạch đồng thời tránh sự lấn chiếm.

- Tranh thủ sự hỗ trợ từ các dự án, cắm mốc 28 cọc bê tông phân chia ranh giới giữa các địa phương theo 364 ở các đơn vị trọng điểm như Phú Đa, Phú Xuân, Vinh Xuân, Phú Diên, Vinh Phú nhằm xác định vị trí, tọa độ để giao quyền khai thác mặt nước cho cộng đồng ngư dân tham gia quản lý.

- Công tác thực hiện giải tỏa, sắp xếp các trộ nò sáo:

          Sau khi thống nhất các vùng quy hoạch để sắp xếp UBND huyên giao trách nhiệm cho cơ quan chủ trì Phòng NN& PTNT phối hợp với các dự án, UBND các xã, thị trấn, Chi hội nghề cá, hộ dân… tiến hành định vị vị trí giao mặt nước cụ thể cho từng hộ,  phần lớn giao cho các hộ dân tự làm, chính quyền địa phương và các ban ngành liên quan chỉ tham gia kiểm tra, giám sát việc sắp xếp lại nò sáo đúng theo quy hoạch.

          Quá trình sắp xếp do khác biệt giữa ranh giới 364 và nhu cầu thực tế của từng địa phương nên số lượng giữa các đơn vị có sự khác biệt. UBND huyện đã kịp thời đề xuất Sở NN&PTNT, UBND tỉnh cho phép điều chỉnh bổ sung theo Quyết định số 83/ QĐ-UBND ngày 14/01/213 để phù hợp với thực tế.

Căn cứ các chủ trương, chính sách, các tiêu chí đề ra đã được thông qua dân, công tác tiến hành sắp xếp giải tỏa tương đối thuận lợi. Đến nay, toàn huyện đã thực hiện cơ bản hoàn thiện công tác này. Số trộ giải tỏa được 157trộ/158 trộ, sắp xếp lại 168trộ/181 trộ.

- Công tác giải ngân kinh phí hỗtrợ cho ngư dân:

Nhằm đẩy nhanh tiến độ giải tỏa, sắp xếp nò sáo và tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân ổn định sản xuất, UBND huyện cùng với Phòng NN&PTNT, phối hợp với các địa phương thường xuyên theo dõi, tiến hành nghiệm thu các trộ nò sáo đã được giải tỏa, sắp xếp. Thống kê, rà soát số nhân khẩu thực tế có tham gia vào nghề nò sáo, lập danh sách hỗ trợ lương thực. Hoàn thiện đầy đủ hồ sơ thủ tục và giải ngân kinh phí hỗ trợ kịp thời cho ngư dân. Trình tự thủ tục thực hiện theo quy trình quy định của Nhà nước, danh sách giải tỏa và sắp xếp, kinh phí hỗ trợ được công khai tại cộng đồng dân cư, sau 15 ngày công bố sẽ kết thúc việc công khai. Quá trình công khai góp phần giải quyết những thắc mắc kiến nghị cụ thể, rõ ràng nên ngư dân đồng thuận cao, không có trường hợp khiếu kiện khiếu nại. 

Tổng kinh phí đã giải ngân hỗ trợ cho ngư dân:            4.881.725.000 đồng.

Trong đó:

+ Kinh phí hỗ trợ các hộ giải tỏa và ổn định sản xuất :      2.354.000.000 đồng.

+ Kinh phí hỗ trợ các hộ sắp xếp:                                         238.000.000 đồng.

+ Kinh phí hỗ trợ lương thực cho các hộ giải tỏa:                1.661.570.000 đồng.

+ Kinh phí hỗ trợ lương thực cho các hộ sắp xếp:                  628.155.000 đồng.

- Công tác đào tạo chuyển đổi nghề cho các hộ giải tỏa:

 Thực hiện chỉ thị của UBND huyện, Trung tâm dạy nghề, Phòng NN&PTNT huyện phối hợp với UBND các xã, thị trấn khảo sát, nắm bắt nhu cầu đào tạo và chuyển đổi nghề cho các hộ giải tỏa sắp xếp nò sáo. Qua điều tra cho thấy, có 512 lao động thuộc diện được hỗ trợ đào tạo học nghề tập trung ở các xã Vinh Hà, Phú Xuân, Vinh Xuân, Phú Diên, Phú Thuận, Phú Hải và Phú Diên. Trung tâm dạy nghề huyện đã tổ chức đăng ký và đào tạo được 5 lớp kỹ thuật nuôi trồng thủy sản cho 147 lao động, trang bị kiến thức cho ngư dân chuyền đổi từ khai thác sang nuôi trồng thủy sản. Tổng kinh phí giải ngân là 459.250.000đ.

- Công tác giao quyền khai thác mặt nước cho Chi hội nghề cá:

+ Công tác thành lập và củng cố Chi hội nghề cá:

Tranh thủ sự hỗ trợ của dự án Quỹ môi trường toàn cầu thuộc Trung tâm nghiên cứu và Phát triển cộng đồng, CSSH; đặc biệt có sự hỗ trợ rất lớn của dự án IMOLA, Hội nghề cá tỉnh, Chi cục KT&BVNLTS cùng UBND các xã, thị trấn đã tuyên truyền vận động ngư dân tự nguyện tham gia vào chi hội nghề cá. Tổ chức họp dân xây dựng phương án sản xuất và lập các thủ tục giao quyền khai thác mặt nước cho các chi hội nghề cá hướng tới tham gia đồng quản lý tài nguyên đầm phá. Hiện nay, đã thành lập và củng cố được 19 chi hội nghề cá ở các xã, thị trấn (trong đó có 14 chi hội nghề cá có nghề nò sáo). Các chi hội đã được củng cố vàtổ chức đại hội, đảm bảo cho việc giao quyền khai thác thủy sản.

Đến nay, UBND huyện đã ra Quyết định giao quyền khai thác thủy sản cho 7 Chi hội nghề cá gồm: Chi hội nghề cá Đội 16 xã Vinh Phú, Chi hội nghề cá xã Vinh Xuân, Chi hội nghề cá Phú Đa, Chi hội nghề cá Phú Diên, Chi hội Nghề cá Phú Mỹ (đầm Sam Chuồn), Chi hội nghề cá Phú Hải và Chi hội nghề cá Phú Xuân. Sau khi được giao quyền quản lý mặt nước, các Chi hội nghề cá đã phát huy hiệu quả, ý thức trách nhiệm của BCH hội được nâng lên, nhận thức trong hội viên có chuyển biến đáng kể. Điều này đã góp phần tích cực vào công tác quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên đầm phá.

 

2. Những tồn tại vướng mắc trong quá trình thực hiện

- Tiến độ thực hiện vẫn còn chậm so với kế hoạch đề ra.

- Khi căn cứ vào ranh giới 364 để lập bản đồ hiện trạng nò sáo, một số trộ sáo trước đây thống kê trên địa bàn các xã, thị trấn  thuộc huyện có sự chênh lệch nên phải chờ ý kiến chỉ đạo của Tỉnh.

- Mặt nước ở cửa biển Thuận An thuộc Cảng vụ quản lý nên chỉ bố trí sắp xếp nò sáo tạm thời.

- Về công tác đào tạo chuyển đổi nghề cho ngư dân: Theo Quyết định số 1142/QĐ-UBND ngày 06 tháng 6 năm 2011 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế có 512 lao động thuộc diện giải tỏa được hỗ trợ đào tạo nghề, tuy nhiên khi triển khai có một số lao động đã được đào tạo từ các nguồn khác nên chỉ có 147 lao động đăng ký học nghề nuôi trồng thủy sản.

- Sự tập trung chỉ đạo của một số địa phương chưa được quan tâm, thiếu chủ động nên công tác sắp xếp giải tỏa có nhiều khó khăn hoặc chậm tiến độ.

Tóm lại, Thủy vực đầm phá huyện Phú Vang là một phần rất quan trọng trong hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, là nơi nổi tiếng giàu nguồn lợi thủy sản từ xưa tới nay, nhưng nguồn tài nguyên này đang nhanh chóng bị cạn kiệt do khai thác quá mức và môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Các ngư cụ cố định, nò sáo, đáy từ trước tới nay bố trí tự phát, lộn xộn, dẫn đến xâm lấn đường giao thông, cản trở dòng chảy, ảnh hưởng đến nguồn lợi, môi trường và gây khó khăn cho công tác quản lý. Do vậy, việc thực hiện quy hoạch, sắp xếp lại nò sáo đã góp phần rất lớn trong việc cải thiện môi trường hệ sinh thái đầm phá; tạo ra sự thông thoáng, thuận lợi cho giao thông đi lại của các phương tiện cũng như đường di cư các loài thủy sản nhằm phục hồi nguồn lợi vốn có trên đầm phá.

Quy hoạch sắp xếp, giải tỏa nò sáo bước đầu đã giải quyết được nội dung chủ yếu trong thực hiện việc cải cách quản lý, tái sắp xếp nghề khai thác thuỷ sản. Tuy nhiên, do còn hạn chế về thời gian và kinh phí, quy hoạch chưa có điều kiện thực hiện các công việc chi tiết hơn của một bản quy hoạch hoàn chỉnh như: thời gian và mùa vụ khai thác đối với nghề nò sáo, các sinh kế thay thế, sinh kế chuyển đổi, quy chế quản lý... Các nội dung này cần được tiếp tục xây dựng để hoàn thiện công tác quản lý cũng như góp phần bình ổn đời sống kinh tế xã hội của bà con ngư dân. 

Sau khi sắp xếp và giao quyền cho Chi hội nghề cá tham gia đồng quản lý, có thể nói vai trò của cộng đồng ngư dân trong quản lý tài nguyên ngày càng được khẳng định. Đây là những người trực tiếp hưởng lợi từ nguồn tài nguyên đầm phá đồng thời tạo ra những tác động tích cực và tiêu cực đến hệ thống tài nguyên này. Nếu phát huy được sự hợp tác của cộng đồng thì mức độ thành công sẽ rất cao. Vì thế, chính quyền và các ban nghành chức năng cần phải thường xuyên quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ các chi hội nghề cá để chi hội ngày càng phát huy cao hơn vai trò trách nhiệm của mình trong việc tham gia quản lý đầm phá.

III. Kế hoạch trong thời gian tới

-Tiếp tục kiểm tra, đôn đốc các hộ có trộ giải tỏa, sắp xếp nò sáo ở xã Phú Thuận, xã Phú Xuân - sớm triển khai thực hiện để nghiệm thu hoàn thành. Những hộ đã hoàn chỉnh công tác sắp xếp và giải tỏa nò sáo ở các xã Vinh Hà, Vinh Phú, Phú Đa - được điều chỉnh bổ sung theo quyết định số 83/QĐ-UBND ngày 14/1/2013, lập hồ sơ thủ tục để chi trả cho ngư dân,hoàn tất trong năm 2014.

- Tiếp tục khảo sát, tổ chức các lớp đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp cho ngư dân vùng đầm phá, nhất là lực lượng lao động trẻ nhằm giảm áp lực lao động, ổn định lao động tham gia hoạt động sản xuất trên đầm phá trong tương lai.

- UBND các xã thị trấn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát kịp thời, xử lý nghiêm các trường hợp tái lấn chiếm, đảm bảo việc thực hiện đúng theo quy hoạch, giữ vững kỷ cương pháp luật của nhà nước. Nghiêm cấm việc ngăn chắn một phần hay toàn bộ diện tích đã được bố trí nò sáo để nuôi trồng thủy sản.

- Ở mỗi xã cần thành lập Ban đồng quản lý cấp xã (bao gồm Lãnh đạo xã, Công an, Xã đội, các ban nghành…và đại diện BCH chi hội nghề cá) nhằm giúp UBND xã điều phối các hoạt động quản lý trên đầm phá cũng như hỗ trợ các chi hội nghề cá trong việc tuần tra giám sát và các hoạt động khác.

 - Xây dựng quy hoạch về các vùng chức năng ở từng xã (cũng như ở từng chi hội nghề cá), ở mỗi vùng có quy định cụ thể về chủng loại, số lượng ngư cụ, phương thức hoạt động cho từng loại nghề. Công việc này cần có sự tham gia của cộng đồng, các nội dung này được thể hiện chi tiết trong phương án đề xuất cấp quyền khai thác của các chi hội nghề cá.

- Củng cố và phát triển tổ chức chi hội nghề cá, giúp các chi hội có năng lực tham gia vào việc xây dựng quy hoạch phân vùng chức năng, lập kế hoạch sử dụng và quản lý ngư trường, xây dựng nội quy, hương ước tự quản trong nội bộ tổ chức ngư dân khi được cấp quyền khai thác.

- Chi hội nghề cá khi đã được cấp quyền khai thác sẽ đóng vai trò là đơn vị trực tiếp giám sát thường xuyên việc thực thi quy chế ở các vùng chức năng trên đầm phá. Để làm được việc này, chi hội nghề cá phải thành lập các đội tuần tra gồm các thành viên tích cực do hội viên bầu ra và được UBND xã thông qua.

- Tập trung chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, các địa phương tranh thủ sự hỗ trợ của các ban ngành cấp tỉnh, các dự án tiếp tục hỗ trợ về kỹ thuật, thủ tục, phương án sản xuất hướng tới giao quyền quản lý và khai thác diện tích mặt nước cho các Chi hội nghề cá trên toàn bộ đầm phá của huyện.

-  Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyển tải các văn bản quy định của pháp luật về thủy sản nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng ngư dân. Đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý và điều hành cho các Ban chấp hành Chi hội nghề cá.

- Thực hiện lồng ghép các nguồn lực từ Nhà nước, cộng đồng, các tổ chức tài trợ, các tổ chức kinh tế hữu quan. Huy động nguồn lực cộng đồng cùng tham gia vào công tác phân vùng, sắp xếp lại ngành nghề phù hợp với thực tế.  

- Các cơ quan quản lý thẩm quyền riêng: Phòng NN & PTNT huyện, Phòng TN&MT, Phối hợp với Chi cục KT&BVNLTS, Hội Nghề cá Tỉnh , các bên liên quan; chủ động xây dựng các kế hoạch chi tiết, tham mưu đệ trình Chính quyền cấp huyện phê duyệt quy hoạch và đầu tư thực hiện quy hoạch toàn bộ ngành nghề trên đầm phá. Thường xuyên theo dõi hỗ trợ kiểm tra giám sát việc tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả phương án sản xuất đối với các Chi hội Nghề cá.

- Tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm đối với các Chi hội Nghề cá đã được cấp quyền để bổ sung, điều chỉnh, phù hợp với thực tế, nhằm phát triển khai thác thủy sản theo hướng bền vững. Ổn định cuộc sống lâu dài cho ngư dân tham gia sản xuất trên đầm phá, góp phần duy trì và phục hồi nguồn lợi, môi trường hệ sinh thái đầm phá.   

IV. Kiến nghị và đề xuất

- UBND tỉnh, Sở NN&PTNT bố trí nguồn ngân sách để quy hoạch toàn bộ ngành nghề khai thác thủy sản của huyện; bố trí nguồn ngân sách để thực hiện việc sắp xếp giải tỏa nghề đáy trên đầm phá; quan tâm hỗ trợ nguồn ngân sách để thực hiện quy hoạch vùng đầm phá Sam Chuồn.

- Chi cục KT&BVNLTS tỉnh hỗ trợ kỹ thuật và con người giúp cho huyện trong việc định vị, quy hoạch sắp xếp ngành nghề trên đầm phá; tiến tới giao quyền quản lý khai thác cho tất cả các chi hội nghề cá trên toàn huyện.

- Đề nghị các dự án tiếp tục hỗ trợ, nâng cao nhận thức cho ngư dân và năng lực quản lý điều hành cho các BCH chi hội nghề cá. Hỗ trợ kỹ thuật về xây dựng phương án cấp quyền…

- Hội nghề cá tỉnh quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cho các Chi hội nghề cá hoạt động ngày càng mạnh nhằm đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.   

                                                                           UBND huyện Phú Vang &

Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Huế