hoc vi tinh

thiết kế website tại đà nẵng

thiết kế website tại đà nẵng

Kết quả và bài học từ chuyến tham quan mô hình tại đồng bằng Sông Cửu Long
Developed by JoomVision.com

Liên kết website

Liên kết-Quảng cáo

Trung tâm Thông Tin Thư viện

Khoa Môi trường

Bộ môn Bản đồ, viễn thám và GIS

Kết quả và bài học từ chuyến tham quan mô hình tại đồng bằng Sông Cửu Long

1. Lý do tham quan

Từ năm 2004, tổ chức ICCO – Hà Lan và Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Huế (CSSH) đã hợp tác cùng nhau chung sức phát triển các cộng đồng nghèo, thiệt thòi thông qua các dự án hỗ trợ cho cộng đồng vạn đò định cư ven đầm phá Tam Giang. Chính vì lĩnh vực hoạt động phù hợp với sứ mệnh của ICCO, đồng thời CSSH đã chứng minh được năng lực và hiệu quả trong các hoạt động dự án, nên hai bên đã hợp tác với nhau từ trước cho đến hiện tại và đang xây dựng các kế hoạch cho quá trình hợp tác lâu dài.

Đầu năm 2011, ICCO tiếp tục hỗ trợ cho CSSH thực hiện Phase 05 với dự án “Tăng cường cơ hội tiếp cận đất và mặt nước cho cộng đồng vạn đò định cư ven đầm phá Tam Giang, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế”. Đây là dự án thiết thực tập trung vào các hoạt động quan trọng như vận động xây dựng quỹ đất dự phòng cho cộng đồng vạn đò định cư, thúc đẩy trao quyền quản lý mặt nước, xây dựng các khu bảo vệ thủy sản trên đầm phá Tam Giang.

Để nâng cao hiệu quả các hoạt động của dự án, từ ngày 19 đến 23 tháng 10 năm 2013, CSSH đã tổ chức chuyến tham quan học hỏi mô hình cho cán bộ và cộng đồng tại các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL).

2. Mục đích của chuyến tham quan

- Học hỏi mô hình nuôi cá bè thành công trên sông nhằm áp dụng tại đầm phá Tam Giang.

- Học hỏi mô hình quản lý mặt nước và kinh nghiệm quản lý mặt nước.

- Tiếp thu những kinh nghiệm từ quá trình thực hiện chiến lược thích ứng, giảm thiểu và ứng phó với Biến đổi khí hậu tại vùng ĐBSCL.

- Xây dựng mối quan hệ và hợp tác giữa CSSH với các đối tác tại ĐBSCL.

3. Thành phần tham gia

Ban giám đốc và cán bộ CSSH, cộng đồng các địa bàn thuộc vùng dự án bao gồm lãnh đạo chính quyền xã, chủ tịch hội nghề cá, phụ nữ, và các thành viên cộng đồng hưởng lợi. Tổng số là 15 thành viên.

4. Các kết quả chính từ chuyến tham quan

- Tại Cần Thơ: Đoàn được nghe những chia sẻ các kết quả từ nghiên cứu cũng như các hoạt động dự án của đại diện Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu (DRAGON) thuộc Đại học Cần Thơ và Mạng lưới Nghiên cứu đồng bằng và Quan trắc toàn cầu do ông Lê Anh Tuấn trình bày. Hai bên đã chia sẻ, thảo luận, trao đổi về những nội dung quan trọng về những xu thế chính của Biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện nay tại ĐBSCL như bối cảnh khu vực, xu thế BĐKH, những tác động, giải pháp thích ứng giảm thiểu thông qua các mô hình ứng dụng riêng cho vùng ĐBSCL (giống lúa thích ứng, các loài cây ngập mặn, trồng nấm từ rơm, khí biogas….). Kết thúc buổi làm việc, CSSH và DRAGON đã nêu lên những lĩnh vực hợp tác với nhau trong thời gian tới và trao quà lưu niệm giữa hai đơn vị.

- Tại An Giang: Đoàn đã tới tham quan Làng cá bè (Châu Đốc). Tại đây, đoàn được chia sẻ những kinh nghiệm từ việc nuôi cá bè lâu năm trên sông. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, thiên nhiên ưu đãi, người dân ở đây đã tận dụng một cách hiệu quả để tạo ra sinh kế, tìm kiếm và tăng nguồn thu, nhất là mô hình nuôi cá bè trên sông Hậu. Hiện tại Làng cá bè có trên 200 hộ nuôi với trên 1000 bè nuôi, mỗi bè nuôi trung bình dài 20m, rộng 10m, sâu trên 10m và được bố trí nhà ở ngay trên bè. Các loài cá nuôi chủ yếu là cá tra, basa, heng và chép. Cá được thu hoạch và bán sau 6 tháng nuôi và được bán cho các nhà máy, xí nghiệp chế biến thủy hải sản tại khu vực gần nhất. Theo người dân địa phương cho biết, việc nuôi cá bè không phải năm nào cũng thuận lợi, nếu quá trình nuôi gặp phải dịch bệnh sẽ phải bù lỗ rất lớn, những hộ nuôi đều phải liên kết với ngân hàng để có nguồn vốn chăm sóc cá và được thanh toán sau khi cá được bán.

Việc quản lý các bè nuôi cá và mặt nước theo hình thức tự quản, với môi trường sống sông nước nên tất cả người dân đều ý thức vai trò quan trọng của việc giữ gìn và bảo vệ môi trường trên lưu vực sông.

- Tại Bến Tre: Đoàn đã tham quan khu vực du lịch sinh thái cộng đồng với nhiều mô hình sinh kế hiệu quả, cho giá trị kinh tế như nuôi ong lấy mật, cung cấp các dịch vụ phục vụ khách du lịch như các sản phẩm thêu dệt, thủ công mỹ nghệ của văn hóa Champa, loại hình văn hóa nghệ thuật “đờn ca tài tử”, du lịch trên sông, sản xuất kẹo dừa…

Ngoài các điểm chính, đoàn còn tham quan các khu vực mang đậm chất văn hóa sông nước Nam bộ như Chợ Nổi, cách thức đối phó với mùa nước nổi của người dân qua việc dựng nhà, làm thuyền, sản xuất và sinh sống…

5. Phương pháp sử dụng trong quá trình tham quan học tập

Chuyến tham quan học tập được sử dụng với các phương pháp chính như quan sát, phỏng vấn cá nhân, phỏng vấn hộ, ghi hình… Đoàn đã phân công nhiệm vụ cho các thành viên và đã thu được nhiều thông tin rất hữu ích, đây là những kinh nghiệm quý báu cho CSSH cũng như nhóm cộng đồng nòng cốt cùng tham quan. Những thông tin này sẽ được chia sẻ và áp dụng có chọn lọc tại cộng đồng vùng đầm phá Tam Giang, nơi dự án CSSH đang thực hiện.

6. Những bài học kinh nghiệm từ chuyến tham quan

- Xác định đúng mục đích và nơi tham quan phù hợp với yêu cầu ban đầu trong hoạt động của dự án sẽ học hỏi và tiếp thu nhiều thông tin, đạt kết quả mong đợi và áp dụng có chọn lọc vào dự mô hình dự án đang thực hiện.

- Việc xây xựng và phát triển các mô hình sinh kế, các điểm du lịch và dịch vụ phát triển du lịch cộng đồng… cần nghiên cứu và nắm rõ tri thức bản địa, phong tục tập quán, văn hóa, phù hợp với khu vực địa lý và môi trường để có thể  nâng cao hiệu quả kinh tế, phát huy các giá trị sinh thái và nhân văn.

- Các cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị thực hiện dự án cần tạo lập cơ chế “mở” nhằm phát huy vai trò của các Trung tâm, viện Nghiên cứu, các NGOs, các nhà nghiên cứu trong việc thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển của các dự án, nhất là trong lĩnh vực ứng dụng nông nghiệp, thủy sản…

- Huy động sự tham gia của các bên liên quan để phát huy tối đa hiệu quả vai trò và các nguồn lực, lồng ghép vào các chương trình trọng điểm, điều này quan trọng cho đầu ra của sản phẩm người nông dân. (Ví dụ các ngân hàng, các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị, các hiệp hội, nhà máy thu mua…).

- Các mô hình như nuôi cá, nuôi ong hay các hoạt động nông nghiệp khác còn bấp bênh do: được mùa bị ép giá, mất mùa không được hỗ trợ vay, biến động của môi trường, thay đổi khí hậu, dịch bệnh… Do vậy, nhà nước, các chính sách do nhà nước ban hành, các hiệp hội bảo vệ các sản phẩm của người dân cần thiết thực hơn và phát huy vai trò để bảo vệ quyền lợi cho nông dân.

- Cần học hỏi việc tăng cường các hoạt động thúc đẩy cộng đồng khu vực địa bàn dự án phát huy thêm các hoạt động dịch vụ, du lịch sinh thái cộng đồng, các địa điểm tham quan. Tuy nhiên phải phù hợp với phong tục, văn hóa, nhất là thích ứng với địa lý, khí hậu và thời tiết của vùng.

- Cần kết nối với các trung tâm, các đơn vị thực hiện dự án để được chia sẻ nhiều hơn về các hoạt động, kinh nghiệm, nhất là mở rộng tham quan địa bàn để học hỏi thêm các lĩnh vực và vấn đề khác.

- Tổ chức chia sẻ, tổng kết, phân công công việc đưa tin, viết bài sau chuyến tham quan để nâng cao hiệu quả hoạt động dự án, nhất là địa bàn thực hiện dự án nói riêng và khu vực miền Trung nói chung.

Tập thể CSSH và cộng đồng