hoc vi tinh

thiết kế website tại đà nẵng

thiết kế website tại đà nẵng

Tổ chức quản lý hành chính các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
Developed by JoomVision.com

Liên kết website

Liên kết-Quảng cáo

Trung tâm Thông Tin Thư viện

Khoa Môi trường

Bộ môn Bản đồ, viễn thám và GIS

Tổ chức quản lý hành chính các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Trên lãnh hải của Việt Nam ở Biển Đông, Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo  có nguồn gốc lịch sử hết sức đặc biệt, giữ vai trò quan trọng cả về giao thông hàng hải, kinh tế-xã hội, chính trị, quân sự và quan hệ quốc tế trong chiến lược phát triển của đất nước suốt nhiều thế kỷ.

Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã diễn ra từ các thế kỷ XVI-XVII. Lúc đầu, chính quyền phong kiến Trung ương quản lý việc kiểm soát và khai thác hai quần đảo này thông qua các đội Hoàng Sa và Bắc Hải của địa phương; nhưng từ 1816, dưới triều vua Gia long, quân đội chính qui của triều Nguyễn chính thức cùng tham gia đảm trách.

Tuy vậy, mãi đến thời Pháp đô hộ, khi Nhật Bản và Trung Quốc thể hiện ý đồ nhòm ngó, việc tổ chức quản lý hành chính hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mới được xúc tiến từ phía chính quyền thực dân Pháp và triều đình Huế từ năm 1930 trở đi.

1.Vị trí địa lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

a. Quần đảo Hoàng Sa

Hoàng Sa là quần đảo san hô gồm trên 40 đảo, đá, cồn san hô và bãi cạn[1] ở khu vực Biển Đông, vị trí toạ độ xác định khoảng giữa 15o45' - 17o15' vĩ độ Bắc và 111o - 113o kinh độ Đông, trên diện tích tự nhiên rộng khoảng 16.000km2. Điểm gần nhất của quần đảo Hoàng Sa cách đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi 123 hải lý (228 km), điểm gần nhất từ quần đảo Hoàng Sa cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 140 hải lý (259 km).[2]

Hiện nay, quần đảo Hoàng Sa là một huyện hành chính của thành phố Đà Nẵng, cách bờ biển thành phố Đà Nẵng 170 hải lý (khoảng 315 km), với diện tích toàn bộ phần nổi của quần đảo khoảng 10km2 trong tổng số 305 km2 diện tích tự nhiên của huyện quản lý, chiếm khoảng 23,77% diện tích thành phố Đà Nẵng.[3]

Các tài liệu cổ của Việt Nam[4] cho biết từ thế kỷ XVII trở về trước người Việt đã gọi quần đảo này là Bãi Cát Vàng hoặc Cồn Vàng. Theo nhiều nhà nghiên cứu, tên gọi này xuất phát từ đặc điểm chung quanh các đảo, nhất là đảo Quang Hòa, bãi cát thường có màu vàng, thậm chí có thể nhìn thông suốt đến đáy các nền lòng chảo san hô và thấy cát vàng ở dưới vào những ngày biển lặng. Tên Hán-Việt của Bãi Cát Vàng được dùng nhiều về sau là Đại Trường Sa, Hoàng Sa Châu, Hoàng Sa Chử, Hoàng Sa.[5]

Trên các hải đồ quốc tế, Bãi Cát Vàng của Việt Nam được các nhà vẽ bản đồ của phương Tây ghi là Pracel, Paracel islands hay Paracels. Theo Pierre Yves Manguin, Parcel (cũng ghi là Pracel) là tiếng Bồ Đào Nha cổ, nghĩa là đá ngầm (récif) hay cao tảng (haut-font). Còn A. Brébion lại cho rằng Paracel là tên một thương thuyền Hà Lan thuộc Công ty Đông Ấn bị đắm tại quần đảo này vào thế kỷ XVII, nên người phương Tây gọi quần đảo theo tên con thuyền Paracel.[6] Người Trung Quốc gọi quần đảo Hoàng Sa bằng nhiều tên, thay đổi một cách bất nhất và chỉ mới từ năm 1907, họ gọi là Tây Sa hay Tây Sa quần đảo (Xīshā qúndǎo) [西沙群岛].[7]

Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo chính là Nguyệt Thiềm, An Vĩnh và các đá, cồn, bãi cạn, bãi ngầm.

- Nhóm đảo Nguyệt Thiềm:Nguyệt Thiềm còn có tên thuần Việt là Trăng Khuyết hay Lưỡi Liềm, tên tiếng Pháp (P) là Croissant groupe, tên tiếng Anh (A) là Crescent group, tên tiếng Hán/Trung Quốc (TQ) là Vĩnh Lạc quần đảo (Yǒnglè qúndǎo) [永乐群岛], nằm về phía tây nam quần đảo, gần đất liền của Việt Nam, ở tọa độ 16031’ vĩ độ Bắc và 111038’ kinh độ Đông. Nhóm này gồm 7 đảo chính là Hoàng Sa, Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh, Quang Hoà, Bạch Quy, Tri Tôn và các bãi ngầm cùng vô số mỏm đá.[8]

- Nhóm đảo An Vĩnh: Nhóm An Vĩnh còn được gọi là Amphytrite groupe (P), Amphitrite group (A), Tuyên Đức quần đảo (Xuāndé qúndǎo) [宣德群岛] (TQ), nằm ở tọa độ 16053’ vĩ độ Bắc và 112017’ kinh độ Đông. Nhóm đảo An Vĩnh bao gồm các đảo tương đối lớn và cao nhất trong các đảo của Hoàng Sa, và cũng là các đảo san hô lớn nhất Biển Đông như đảo Phú Lâm, đảo Cây, đảo Lincoln, đảo Trung, đảo Bắc, đảo Nam, đảo Tây, đảo Hòn Đá.

- Các đá, cồn, bãi ngầm trong quần đảo Hoàng Sa: gồm đá Nam, đá Tây, đá Tháp, bãi Addington, bãi ngầm Sơn Dương, bãi Balfour, bãi Vọng Các, bãi Bassett, đá Bông Bay, bãi ngầm Bremen, bãi Carpenter, bãi Cathay, bãi Cawston, bãi Egeria, bãi Hand, bãi Hardy, bãi Herald, bãi Howard, bãi Learmonth, bãi Xiêm La, bãi Smith, bãi Stewart, đá Chim Yến, đá Lồi, bãi ngầm Bắc, bãi Quan Sát...

Những liệt kê trên đây chỉ để tham khảo, chưa thống kê hết toàn bộ quần đảo.

b. Quần đảo Trường Sa

Trường Sa là quần đảo gồm trên 100 đảo đá, cồn san hô, bãi cạn, bãi ngầm[9] ở khu vực phía đông nam của Biển Đông, vị trí toạ độ xác định khoảng giữa 6o50' - 12o vĩ độ Bắc và 111o30' - 117o20' kinh độ Đông, trên diện tích tự nhiên rộng khoảng 180.000km2, diện tích phần nổi thường xuyên khoảng 10km2. Hiện nay, quần đảo Trường Sa là một huyện hành chính của tỉnh Khánh Hòa. Điểm gần nhất của quần đảo Trường Sa cách thành phố Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hoà 248 hải lý (459km), đảo gần nhất cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 350 hải lý (648km), cách Vũng Tàu 305 hải lý (565km), cách đảo Phú Quý 210 hải lý (389km).[10]

Các tài liệu cổ của Việt Nam[11] thường gọi quần đảo Trường Sa (chung với Hoàng Sa) là Đại Trường Sa đảo, Vạn lý Trường Sa, Vạn lý Trường Sa châu. Trên các hải đồ quốc tế, quần đảo Trường Sa được các nhà vẽ bản đồ ghi là Spratley/Spratly Islands, hay Spratley/Spratly Archipelago, hoặc vắn tắt là Spratlies (A); Archipel des Îles Spratly (P); tiếng Philipines gọi là Kalayaan. Còn với Trung Quốc, chỉ mới từ đầu thế kỷ XX họ gọi quần đảo Trường Sa là Nam Sa quần đảo (Nánshā qúndǎo) [南沙群岛].

Toàn bộ quần đảo Trường Sa được chia thành tám cụm đảo chính, theo thứ tự từ bắc xuống nam là: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm và Bình Nguyên; trong đó đảo Ba Bình là lớn nhất, đảo Song Tử Tây là cao nhất (4-6 m).

- Cụm Song Tử,có 2 đảo Song Tử Đông, Song Tử Tây và các đá, bãi gồm Đá Bắc, Đá Nam, bãi cạn Đinh Ba, bãi Núi Cầu.

- Cụm Thị Tứ, ở phía nam cụm Song Tử, có đảo Thị Tứ và các bãi đá gồm đá Hoài An, đá Tri Lễ, đá Vĩnh Hảo, đá Cái Vung, đá Xu Bi.

- Cụm Loại Ta, ở phía đông cụm Thị Tứ, có đảo Loại Ta, cồn San hô Lancan hay An Nhơn, đá An Lão, bãi Đường, bãi An Nhơn Bắc (đá cuội), bãi Loại Ta Bắc, bãi Loại Ta Nam. Phía đông cụm Loại Ta có đảo Dừa và đá Cá Nhám.

- Cụm Nam Yết, ở phía nam cụm Loại Ta, gồm 3 đảo Nam Yết, Sơn Ca, Ba Bình và bãi Bàn Than, đá Núi Thị, đá En Đất, đá Lạc, đá Gaven, đá Lớn, đá Nhỏ, đá Đền Cây Cỏ.

- Cụm Sinh Tồn, ở phía nam cụm Nam Yết, có đảo Sinh Tồn, đá Sinh Tồn Đông, đá Nhạn Gia, đá Bình Khê, đá Ken Nan, đá Tư Nghĩa, đá Bãi Khung, đá Đức Hòa, đá Ba Đầu, đá An Bình, đá Bia, đá Văn Nguyên, đá Phúc Sỹ, đá Len Đao, đá Gạc Ma, đá Cô Lin, đá Nghĩa Hành, đá Tam Trung, Đá Sơn Hà.

- Cụm Trường Sa, ở phía nam và tây nam cụm Sinh Tồn, kế cận các bãi, đá thuộc thềm lục địa Việt Nam như Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Nguyên, Tư Chính. Cụm Trường Sa có 3 đảo là Trường Sa, Trường Sa Đông, Phan Vinh và các đá, bãi gồm đá Lát, bãi đá Tây, đá Đông, đá Châu Viên, đá Tốc Khan, đá Núi Le, đá Tiên Nữ.

- Cụm An Bang, ở phía nam cụm Trường Sa, có đảo An Bang và các bãi, đá gồm đá Ba Kè, bãi Đất, bãi Đinh, bãi Vũng Mây, bãi Thuyền Chài, đá Hà Tần, đá Tân Châu, đá Lục Giang, đá Long Hải, bãi Trăng Khuyết, đá Công Đo, đá Kỳ Vân, bãi Kiệu Ngựa, đá Hoa Lau, đá Sắc Lốt, đá Louisa.

- Cụm Bình Nguyên, ở về phía đông cụm An Bang, gồm 2 đảo Bình Nguyên, Vĩnh Viễn và các đá, cồn gồm đá Hoa, đá Kim Sơn, đá Đin, đá Hàn Sơn, đá Pét, cồn san hô Jackson, đá Vành Khăn, bãi Cỏ Mây, bãi cạn Suối Ngà, đá Bốc Xan, bãi cạn Sa Bin, đá Hợp Kim, bãi Mỏ Vịt, đá Ba Cờ, đá Khúc Giác, đá Bá, đá Giò Gà, bãi Cạn Nam, đá Chà Và, bãi Cạn Nâu, bãi cạn Rạch Vang, bãi cạn Rạch Lấp, bãi cạn Na Khoai.

Những liệt kê trên đây chỉ để tham khảo, chưa thống kê hết toàn bộ quần đảo.

2. Tổ chức quản lý hành chính của Việt Namđối với Hoàng Sa và Trường Sa

Trong lịch sử xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thời phong kiến, Quảng Nam và Quảng Ngãi là những địa phương đầu tiên chịu trách nhiệm thay mặt chính quyền Chúa Nguyễn, sau đó là Vương triều Nguyễn, quản lý việc khai thác hai quần đảo này thông qua đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải. Từ năm 1816 dưới thời vua Gia Long, triều đình Huế bắt đầu phái thêm quân đội chính qui tham gia, chính thức xác lập chủ quyền của Việt Nam về mặt nhà nước ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đối với quốc tế.

Tuy nhiên, thời các Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn (ở các thế kỷ XVI-XIX), Việt Nam chỉ mới thể hiện quyền sở hữu, kiểm soát và khai thác nguồn lợi ở Hoàng Sa và Trường Sa, chứ chưa tổ chức quản lý về hành chính. Phải đến thời Pháp thuộc, sau quãng thời gian dài ít được chính quyền thực dân chú trọng, từ năm 1930 trở đi, việc tổ chức quản lý hành chính hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mới được đặt ra cho cả chính quyền thực dân Pháp cũng như triều đình Huế, và được thực hiện liên tục theo chiều hướng ngày càng chặt chẽ hơn.