hoc vi tinh

thiết kế website tại đà nẵng

thiết kế website tại đà nẵng

Tác động của nghề lừ lên hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
Developed by JoomVision.com

Liên kết website

Liên kết-Quảng cáo

Trung tâm Thông Tin Thư viện

Khoa Môi trường

Bộ môn Bản đồ, viễn thám và GIS

Tác động của nghề lừ lên hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai

   1. Đặt vấn đề:

       Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là một trong những hệ thuỷ vực nước lợ đặc biệt, lớn nhất Đông Nam Á, có diện tích mặt nước gần 22.000 ha, kéo dài gần 70 km dọc ven biển, được chia thành nhiều tiểu vùng theo hướng từ bắc vào nam gồm: Phá Tam Giang, đầm Sam - Chuồn, đầm Hà Trung - Thuỷ Tú, đầm Cầu Hai, và được phân bổ trên địa bàn 5 huyện với 31 xã.  

  

 So với đầm Vân Trì ( Nội), đầm Vân Long (Ninh Bình), Đầm Thị Nại (Bình Định),... hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai nơi giàu tài nguyên động, thực vậtnhất. Khu vực này tới 230 loài , tôm (trong đó 30 loại tôm, giá trị kinh tế), chiếm 1/3 sản lượng khai thác hàng năm của địa phương.Ngoài ra hiện 63 loài động vật đáy, 43 loài rong, 70 loài chim, 15 loài biển, 171 loài phù du thực vật, 37 loài phù du động vật... Do đó, hệ đầm phá Tam giangCầu Hai đóng một vai trò hết sức quan trọng không những đối với cộng động ngư dân nơi đây còn cả các vùng lân cận.

       Tuy nhiên, trong những năm gần đây, với sự phát triển một cách nhanh chóng của nghề lừ, một loại nghề sử dụng ngư cụ ngoại lai có nguồn gốc từ Trung Quốc đã và đang gây hủy diệt nguồn lợi thủy sản vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai.

2. Nghề lừ và thực trạng

      Khai thác thủy sản là một trong những nghề truyền thống đối với cộng đồng ngư dân dọc theo hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. So với các ngành sản xuất nông nghiệp và công nghiệp khác, khai thác thủy sản là một nghề thủ công quy mô nhỏ và mang tính tự cung tự cấp với hình thức khai thác đa loài và đa nghề. Ngư dân có thể sử dụng một hoặc nhiều loại ngành nghề khác nhau tùy theo vị trí và mùa vụ khai thác. Trong đó, nghề lừ, một nghề đánh bắt di động, có nguồn gốc từ Trung Quốc đã và đang trở thành nghề sinh kế chính của đại đa số người dân nơi đây.

2.1. Nghề lừ

       Theo “Kế hoạch số 12/KH-UBND ngày 04/6/2008 của UBND xã Phú Diên về Phát triển kinh tế biển và đầm phá” (6), nghề lừ là một nghề đánh bắt di động, rất phổ biến ở các cộng đồng ngư dân dọc theo hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Ngư cụ chính được người dân sử dụng để đánh bắt và khai thác thủy hải sản là lừ - một ngư cụ có nguồn gốc xuất xứ ở Trung Quốc. Lừ được phổ biến, nhân rộng với quy mô lớn và được chia thành 2 loại chính: lừ truyền thống và lừ xếp Trung Quốc.

2.1.1 Lừ truyền thống

         Lừ truyền thống là ngư cụ cổ truyền ở Việt Nam, thường sử dụng để khai thác cá, tôm trong mặt nước như hồ, ao, mương, rãnh, sông, đầm phá,... Ngư cụ này ở vùng đồng bằng Bắc Bộ gọi là “lờ”; “đó”, “rọ” để đánh cá tôm, tép, cá nhỏ. Về cấu tạo, lừ  truyền thống là một bẫy liên hoàn lúc đầu được làm bằng tre, nứa, những nguyên liệu có sẵn ở đồng quê Việt Nam. Sau này lừ được chuyển qua hình thức lưới với kích thước 5mm, hai cửa hai đầu để cho thủy sản đi vào với chiều dài từ 40 – 70 cm. So với các ngư cụ đánh bắt khác, lừ truyền thống mặc dù không mang lại hiệu quả cao, nhưng nó góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản đầm phá, đặc biệt là các loại tôm, cá, cua nhỏ.

          2.1.2 Lừ xếp Trung Quốc

          Lừ xếp là một loại bẩy cá ở tầng đáy có tính nạo vét cao. Ngư cụ này có nguồn gốc từ Trung Quốc và bắt đầu được người dân ở huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế sử dụng để khai thác thủy sản ở đầm phá từ năm 2005. Lừ xếp là ngư cụ đánh bắt có hiệu quả cao về sản lượng và chất lượng sản phẩm, thao tác dễ dàng, ban đầu chỉ phát triển ở quy mô nhỏ với 30 hộ, nhưng sau này được người dân phát triển rộng với quy mô lớn, với 2.575 hộ sử dụng. Về cấu tạo, lừ hay còn gọi là lừ xếp khung sắt có kích thước mắt lưới nhỏ và lớn hơn mắt lưới (2a) 18 mm, dài 7 -10 m. Dọc theo thân lừ có nhiều cửa để thủy sản đi vào, rất thuận tiện và hiệu quả khi đánh bắt thủy sản. Tuy nhiên, lừ xếp Trung Quốc là ngư cụ mang tính hủy diệt cao, và đe dọa nguồn lợi thủy sản ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai.

2.2 Ưu điểm và nhược điểm của nghề lừ

         Theo kết quả nghiên cứu “Tác động của việc sử dụng ngư cụ lừ xếp đến môi trường và nguồn lợi trên phá Tam giang - Cầu hai, 2008”của Tiến sĩ Nguyễn Văn Động, Trường Đại học Thuỷ sản Nha Trang thì nghề lừ có những ưu và nhược điểm sau:

           2.2.1 Ưu điểm:

         Nghề lừ là nghề tiên tiến về phương diện kỹ thuật, đầu tư thấp, hiệu quả cao, dễ thực hiện khai thác, không đòi hỏi kỹ năng cao.

         Nghề lừ thuộc họ nghề bẫy, nghề đánh bắt có chọn lọc cao. Tính năng xếp gọn và kỹ thuật khai thác đơn giản, khai thác tất cả ngư trường nội địa nước ngọt, đầm phá nước lợ và thậm chí ở biển ven bờ, có nhiều ưu điểm hơn so với nghề lừ truyền thống (lừ tre) của Việt Nam.

          Hoạt động khai thác nghề lừ nằm dưới đáy đầm phá nên chiếm vị trí khai thác, do đó đã hạn chế được các nghề khai thác trái phép trên đầm phá như nghề xiết điện, nghề giã cào, nghề cào hến bằng máy.

          2.2.2 Nhược điểm:

        Việc quản lý và thực thi pháp luật về quy định mắt lưới ngư cụ các nghề khai thác thuỷ sản nói chung và nghề lừ nói riêng chưa thực hiện quyết liệt. Chính vì thế người dân dễ dàng thay đổi mắt lưới ban đầu của lừ 2a =18 mm thành 2a= 10, 12, 14 mm nên đánh bắt nhiều tôm hơn kể cả tôm cá con.

        UBND các huyện chưa cấp quyền khai thác cho tất cả các tổ chức cộng đồng nên việc kiểm soát số lượng lừ sử dụng khó thực hiện được. Mặt khác, ở các vùng nước cạn hoạt động nghề lừ ảnh hưởng đến an toàn giao thông thuỷ trên đầm phá.

        Mặc dù nghề lừ không phải là nghề cấm, nhưng những ưu, nhược điểm trên đã khiến nghề lừ, từ một nghề đánh bắt ngoại lai, ít người biết đến đã và đang trở thành một nghề phổ biến, được sử dụng hàng loạt với tính càn quét cao. Điều này có thể làm giảm, thậm chí cạn kiệt nguồn lợi thủy sản ở hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai và ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống sinh kế của người dân nơi đây.

2.3 Thực trạng nghề lừ ở hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai

       Hiện nay tại 31 xã, thị trấn ven hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, hàng nghìn ngư dân đang sử dụng lừ để càn quét tôm cá với mật độ đáng báo động. Theo số liệu của ngành thủy sản được trình bày trong “Hội thảo đánh giá tác động nghề lừ xếp đến môi trường đầm phá Tam giang – Cầu Hai” ngày 17/04/2009 của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, thì năm 2005 chỉ có 30 hộ tham gia khai thác thủy sản bằng nghề lừ xếp với 100 chiếc lừ. Nhưng đến cuối năm 2008 có đến 2399 hộ tham gia khai thác thủy sản bằng lừ, với 133.988 chiếc. Mỗi địa phương trung bình có từ 30 – 200 hộ dân làm nghề lừ. Bình quân mỗi hộ gia đình có từ 50 – 150 tay.

       Theo ông Trần Cân, Chủ tịch chi hội nghề cá thôn Thanh Mỹ - một thôn nhỏ nằm giữa biển Thuận An và đầm phá Thủy Tú, thuộc xã Phú Diên, huyện Phú Vang, thôn có trên 200 hộ dân với 160 hộ gia đình làm nghề lừ xếp. Hiện tại ngư dân ở Thanh Mỹ đang khai thác thủy sản một cách ồ ạt, vô tội vạ với mật độ dày đặc.Cũng theo ông Trần Đằng – Thư ký của chi hội, trước đây một đêm đặt lừ xếp, ít lắm mỗi hộ dân địa phương cũng kiếm được trên 100.000 đồng tiền tôm cá, nhưng nay đã giảm xuống chỉ còn 20.000 - 40.000 đồng, do có quá nhiều người làm nghề lừ. Các nghề lưới truyền thống trên phá Tam Giang đang có nguy cơ giải nghệ do tôm cá cạn kiệt. Những ngày nước trong và khi thủy triều xuống, nếu quan sát mật độ lừ trên đầm phá Thủy Tú thì phần nào chúng ta có thể biết được tình trạng khai thác, đánh bắt bằng lừ xếp đáng báo động như thế nào. Chỉ trong một vùng nước nhỏ với 30 m2 mà đã có đến 6 tay lừ được đặt chồng chéo lên nhau. Từ đó, sẽ có hàng ngàn, hàng vạn chơ lừ với hàng ngàn, hàng vạn loài tôm cá, thủy sản bị đánh bắt trên toàn đầm phá. Đặc biệt với đặc tính càn quét cao, không những loài tôm cá lớn, mà ngay cả những thủy hải sản nhỏ bé cũng bị đánh bắt. Ngư dân khai thác mà không hề nhìn nhận, suy nghĩ về những hậu quả mà họ, con em của họ phải gánh chịu trong tương lai. Thiên nhiên, môi trường ô nhiễm, nguồn lợi thủy sản cạn kiệt và nhiều loài thủy sản đang có nguy cơ tuyệt chủng. Theo chị Nguyễn Hạnh, một lái buôn ở Thanh Mỹ cho hay, giá cả các loài thủy sản dao động, thay đổi liên tục do nhu cầu của người dân và nguồn lợi thủy sản khan hiếm. Cụ thể cá ong 150.000 đồng/kg, ghẹ 100.000 đồng/kg, cua 300.000 đồng/kg, cá dìa 150.000 đồng/kg, cá mú 360.000 đồng/kg, cá hồng 170.000 đồng/kg... Đặc biệt Thanh Mỹ - Phú Diên là một trong những khu vực nổi tiếng với đặc sản cua ghẹ. Bên cạnh các loài thủy hải sản khác, cua ghẹ có giá trị kinh tế cao và đã góp phần rất lớn trong việc cải thiện sinh kế của người dân. Nhiều hộ đã vượt qua đói nghèo và vươn lên làm giàu chính nhờ nguồn lợi thủy sản này. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, với sự gia tăng nhanh chóng của lừ xếp Trung Quốc, nguồn lợi thủy sản ở địa phương ngày càng giảm dần và đang trên nguy cơ cạn kiệt. Theo anh Trần Sáu, một thương lái buôn cua ghẹ tại địa phương cho biết, những năm trước đây khi nghề lừ chưa phổ biến thì nghề nuôi cua ghẹ rất phát triển và mang lại giá trị kinh tế rất cao, nó trở thành mô hình chính đối với nhiều bà con trong thôn. Nhưng trong hai năm gần đây, cua ghẹ đã giảm hẳn về mặt số lượng và đang có nguy cơ cạn kiệt trong thời gian sắp tới. Từ một lái buôn khấm khá, bận rộn với công việc thu mua cua ghẹ, giờ đây do nguồn cung không còn nên anh đã giải nghệ. Trường hợp của anh Trần Sáu chỉ là một trong những minh chứng tác hại của nghề lừ.

        Cũng theo ông Nguyễn Lai, một ngư dân chuyên đánh bắt bằng nghề lừ xếp ở thôn Trung Làng, xã Quảng Thái, huyện Quảng Điền cho biết, nguồn lợi thủy sản trên đầm phá ngày càng cạn kiệt. Khoảng hai năm trở lại đây, hàng trăm hộ ngư dân phải chuyển từ nghề đánh bắt bằng lưới bạc, nò sáo... sang đánh bắt bằng lừ xếp mới kiếm được cá. Ông Lai nói thêm, việc đánh bắt lừ xếp trên phá thường diễn ra vào ban đêm, và có thể bắt được một lúc nhiều loài cá tôm khác nhau, nên hiện có rất nhiều người chuyển sang nghề này. Vì hiệu quả kinh tế từ nghề lừ khá cao, nên hiện nay nhiều ngư dân ở Quảng Thái đã cải tiến, thay đổi mắt lưới, từ 0,8 -1,2cm. Việc sử dụng ngư cụ lừ với mắt lưới nhỏ để càn quét tôm, cá đã và đang làm làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản ở hệ đầm phá Tam Giang Cầu Hai. Ông Nguyễn Tường, Chủ tịch UBND xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền - một địa phương có phong trào đánh bắt bằng lừ xếp khá hùng hậu trên phá Tam Giang phát biểu: "Hầu hết người dân sống ở vùng đầm phá đều tham gia đánh bắt bằng lừ, đây cũng là một nghề cho thu nhập chính của ngư dân hiện nay. Nguyên nhân mà phương tiện đánh bắt bằng lừ xếp phát triển mạnh là rất dễ sử dụng, chỉ cần giăng thả ở tầng đáy vào bất cứ thời gian nào trong ngày".

         Hiện nay, mặc dù đã có sự cạn thiệp của các cơ quan chức năng trong việc hạn chế sử dụng lừ để đánh bắt thủy hải sản, nhưng hiện nay phong trào sản xuất lừ ở các cộng đồng dọc theo hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai vẫn đang rất phát triển mạnh. Theo số liệu điều tra của cán bộ CSSH, Thanh Mỹ - Phú Diên là một trong những thôn có phong trào sản xuất lừ tự phát khá cao. Hiện tại thôn có 5 cơ sở sản xuất lừ. Trung bình một ngày một cơ sở sản xuất từ 2 đến 3 cái, và sẽ có từ 10 đến 15 chiếc lừ được sản xuất mỗi ngày. Nếu xét tổng thể toàn bộ hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai thì một ngày sẽ có hàng trăm, hàng nghìn tay lừ được sản xuất. Một thực tế đáng báo động hơn, trong thời gian trước, lừ được sản xuất và sử dụng phổ biến ở mắc lưới rộng từ 1,8 – 2cm, nhưng gần đây, để có thể vét hết tất cả các loại tôm cá to nhỏ, nhiều ngư dân đã nảy ra sáng kiến cải tiến mắc lưới  xuống còn 0,8 – 1,2 cm, bằng với mắt lưới mùng mang tính hủy diệt, vốn đã cấm từ lâu. Từ những thực trạng trên, chúng ta có thể khẳng định rằng, lừ đã và đang có những tác hại xấu đến nguồn lợi thủy sản của hệ đầm phá Tam Giang – Cầu hai

3. Kết luận:

         Như vậy, đã có sự thay đổi và chuyển biến lớn trong công nghệ khai thác thủy sản ở vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Sự thay đổi phản ánh sự phát triển về trình độ khai thác, đồng thời cũng là những thay đổi tất yếu xảy ra trong bối cảnh sản lượng khai thác ngày càng suy giảm. Theo xu thế phát triển nhanh của nghề lừ và nhận định của nhiều ngư dân ở đầm phá thì trong vài năm tới, nghề lừ vẫn là nghề mang lại thu nhập chính đối với một số cộng đồng dọc theo hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Tuy nhiên, để hạn chế sự phát triển nhanh của nghề lừ và sự cạn kiệt của nguồn lợi thủy sản ở đầm phá Tam Giang, nó đòi hỏi phải có những giải pháp can thiệp kịp thời với sự phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng với người dân địa phương.

   4. Giải pháp

Nhằm bảo vệ, ngăn chặn nguy cơ suy thoái môi trường và nguồn lợi thủy sản ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, chúng ta có thể áp dụng các giải pháp sau:

-  Các hoạt động khai thác, đánh bắt tôm cá, thủy sản phải cách bờ tối thiểu 200m. Mỗi cheo lừ dài không quá 10m, mắt lưới không nhỏ quá 18m, chỉ được thả lừ ở những vùng nước có độ sâu phải lớn hơn 0,8 mét kể từ đáy; phải cách các trộ nghề cố định (nò sáo, đáy, chuôm) tối thiểu là 20 mét. Ngư trường thả lừ đảm bảo không vi phạm tuyến luồng giao thông thuỷ nội địa.

-  Các cơ quan chức năng, UBND các huyện phải tạo điều kiện thuận lợi trao quyền quản lý mặt nước đầm phá cho người dân.

-  Tổ chức các đợt tuyên truyền, vận động và buổi nói chuyện về tác hại của nghề lừ để giúp người dân nâng cao nhận thức và hành vi đối với nghề lừ.

-  Vận động và nghiêm cấm ngư dân chạy đua mua sắm lừ ngoại để khai thác, đánh bắt quá mức nguồn lợi thủy sản.

-  Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm minh đối với những trường hợp vi phạm quy định, làm tổn hại đến môi trường và nguồn lợi thủy sản đầm phá.

-  Hỗ trợ vốn để giúp ngư dân chuyển đổi nghề nghiệp và phát triển nghề nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản theo hình thức truyền thống, thân thiện với môi trường.

Nguyễn Chí Duyên

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Hội thảo đánh giá tác động nghề lừ xếp đến môi trường đầm phá Tam Giang - Cầu Hai.

http://www1.thuathienhue.gov.vn/News/NewsDetail.aspx?Id=7915

2. Những thay đổi trong công nghệ khai thác thủy sản ở vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai.

http://www.agritrade.com.vn/%28S%28zrxu25nuvvh4tm45btmel1bv%29%29/ViewArticle.aspx?ID=1425&AspxAutoDetectCookieSupport=1

3. Thừa Thiên - Huế: Hạn chế việc đánh bắt bằng lừ xếp trên phá Tam Giang - Cầu Hai.

http://ca.cand.com.vn/vi-vn/anninhkinhte/tinANKT/2009/10/153142.cand

4. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, quản lý nghề “Lừ xếp” khai thác trên đầm phá.

http://snnptnt.thuathienhue.gov.vn/portal/?GiaoDien=1&ChucNang=125&newsid=20091016165114&t=2

5. Nghề lừ xếp từ kỹ thuật đến quản lý.

http://tamgianglagoon.com/dispHTMLpage.aspx?db=db_ngucu&id=7

6. Lừ xếp "càn quét" phá Tam Giang.

http://ca.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=147383

7. Sở Thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế, Quy hoạch Tổng thể Quản lý Khai thác Thủy sản Đầm phá Thừa Thiên Huế, Huế 12/2003.

8. Kế hoạch số 12/KH-UBND ngày 04/6/2008 của UBND xã Phú Diên về Phát triển kinh tế biển và đầm phá.