hoc vi tinh

thiết kế website tại đà nẵng

thiết kế website tại đà nẵng

Lễ hội ngư dân đầm phá Thừa Thiên Huế
Developed by JoomVision.com

Liên kết website

Liên kết-Quảng cáo

Trung tâm Thông Tin Thư viện

Khoa Môi trường

Bộ môn Bản đồ, viễn thám và GIS

Lễ hội ngư dân đầm phá Thừa Thiên Huế

                                                                                         Nguyễn Quang Trung Tiến

Lễ  hội dân gian của một cộng đồng người bất kỳ nào đó bao giờ cũng xuất phát từ quan niệm tín ngưỡng đặc trưng của họ. Nguồn gốc tín ngưỡng của lễ hội dân gian không cho phép chúng ta tách biệt rạch ròi thành hai phần tín ngưỡng và lễ hội khi nghiên cứu chúng.

Vạn đò ở cửa sông Lợi Nông

Đối với khu vực cư dân đầm phá Thừa Thiên Huế, ngoài những quan niệm tín ngưỡng và lễ hội mang đặc trưng chung của cộng đồng dân tộc Việt, chúng ta vẫn dễ dàng nhận ra những đặc thù của cư dân sinh sống trên mặt nước bao la của đầm phá. Nó phản ánh rõ thế giới quan và nhân sinh quan của con nguời ở đây dưới hình thức bình dị, mộc mạc và rất đời thường.

Tín ngưỡng và lễ hội dân gian cư dân đầm phá Thừa Thiên Huế rất đa dạng và cực kỳ phức tạp, dưới đây là những biểu hiện mang tính phổ quát của khu cực cư dân này.

Quan niệm linh hồn và lễ cúng cô hồn

Thuyết linh hồn là hình thức tín ngưỡng sơ khai nguyên thuỷ, phản ánh nhận thức của con người trước sức mạnh to lớn của tự nhiêm và xã hội. Quan niệm linh hồn hầu như phổ biến ở khắp tất cả các cộng đồng người, và tồn tại dai dẳng trong đời sống tâm linh của họ.

Quan niệm lễ hội dân gian của cư dân đầm phá Thừa Thiên Huế gắn liền với những đối tượng quen thuộc ở loài cá là cá voi và cá vược, và lẽ tất nhiên là ngay chính bản thân của con người. Linh hồn là cái bất biến, tồn tại vĩnh viễn sau khi thân xác bị thiêu huỷ. Linh hồn của một con người khi đã chết thì hoặc là lên trời, hoặc là đoạ xuống địa ngục tuỳ theo âm đức của từng người. Quan niệm của cư dân đầm phá cũng cho rằng con người có đến ba hồn và bảy vía (nếu là nam) hoặc chín vía (nếu là nữ). Cái chết của con người là do hiện tượng hồn lìa khỏi xác, vì vậy khi gặp những tai biến bất ngờ như trúng gió bất tỉnh, bị ngã xuống nước tắt thở... thì người ta đều hô hoán để gọi linh hồn quay trở về nhập vào thể xác nhằm trả lại cuộc sống cho những người bị nạn.

Từ quan niệm linh hồn đó, cư dân đầm phá Thừa Thiên Huế thường xây dựng các am, cảnh nhỏ nằm rải rác ven bờ đầm để thờ cúng các loại âm linh cô hồn bị chết trên sông nước. Hàng tháng vào các ngày sóc, vọng (mồng một và rằm âm lịch), ngư dân thường mang hương hoa lễ vật đến những nơi đó để cúng bái, có khi là những vắt cơm nhỏ, những hạt nổ đủ màu, giấy tiền vàng bạc (đồ hàng mã) và hương đèn; có khi họ chỉ thắp hương và khấn vái chứ không có vật phẩm. Lễ vật cúng xong được ngư dân đem thả trên những chiếc bè nhỏ trôi dạt trên sông nước, với ý nghĩa phân phát cho những vong linh cô hồn lang thang không nhà không cửa, không ai thờ cúng, chia nhau hưởng thụ rồi không quấy nhiễu đến công việc hành nghề của họ.

Việc thờ cúng của cư dân đầm phá xuất phát từ quan niệm có linh hồn. Lệ cúng cô hồn từ mục đích ban đầu là “giúp đỡ” những linh hồn trôi dạt lang thang không người thờ phụng, đã được kết hợp thêm mục đích thứ hai là cầu mong các cô hồn uẩn tử đừng quậy phá để công việc hành nghề của ngư dân tiến hành tốt đẹp.

Lễ cúng thờ tổ tiên

Việc chôn cất người chết ở cư dân đầm phá Thừa Thiên Huế quả là một vấn đề hết sức khó khăn. Suốt một đời chỉ chuyên gắn bó cuộc sống với con thuyền, nhưng đến lúc chết lại không có phần đất chôn cất, nên họ phải trình xin hoặc mua ở các làng nông nghiệp ven bờ.

Việc xin phép hoặc mua một chỗ đất cho người chết tại các làng ven bờ không phải lúc nào cũng thuận lợi, chính vì vậy cư dân đầm phá thường không có nghĩa địa chung của dòng họ như cư dân nông nghiệp. Hơn nữa, cuộc sống chài lưới quanh năm suốt tháng theo đuôi con cá, cái chết lại xảy đến trong nhiều tình huống khó đoán định, nên chết ở chỗ nào người ta thường tìm đất ở chỗ đó để mai táng. Sự phân tán mồ mả của người thân trong gia đình, dòng họ là nguyên nhân làm cho con cháu những thế hệ sau hoàn toàn quên hẳn nơi chôn cất của tổ tiên.

Tuy nhiên, cũng như đại đa số dân cư Việt ở trên toàn quốc, cư dân đầm phá Thừa Thiên Huế vẫn thờ cúng tổ tiên của mình, ngay trên phương tiện cư trú và hành nghề, đó là con đò. Trong các con đò cư trú của các gia đình ngư dân, chỗ trang trọng kín đáo nhất ở mũi đò, chính là nơi đặt bát hương thờ cúng ông bà tổ tiên của họ. Ngư dân luôn luôn quan niệm rằng tuy đã chết nhưng linh hồn của những người chết vẫn còn thương nhớ con cháu, và thường xuyên về thăm nom, phù hộ cho họ được gặp những điều tốt lành. Mặt khác việc thờ cúng ông bà tổ tiên còn thể hiện sự nhớ ơn của con cháu đối với những tiền nhân đã khuất bóng.

Lễ cúng tổ tiên ông bà của các gia đình, dòng họ ngư dân đầm phá được thực hiện vào ngày tròn năm của các kỳ giỗ, chạp tuỳ theo từng trường hợp cụ thể. Và trong các dịp cúng tế quan trọng khác như lễ mở cửa nước, lễ cúng rào..., ngư dân vẫn thường dâng cúng vật thực và hương khói trên bàn thờ tiên tổ một cách chu đáo, đúng như câu tục ngữ ở vùng đầm phá Thừa Thiên Huế hay nói là: ”Câu cá mại cũng vái tiên sư”.

Thờ cúng tổ tiên là hình thức tín ngưỡng truyền thống có từ lâu đời của dân tộc Việt, nó thể hiện đạo lý làm người với quan niệm ”cây có cội, nước có nguồn” khá rõ nét. Đối với cư dân đầm phá, những lần cúng tế tổ tiên là dịp nhận mặt họ hàng thân thích giữa các thế hệ, cố kết mối quan hệ thân tộc trong dòng họ, củng cố thêm mối đoàn kết gắn bó cùng nhau khai thác mặt nước để sinh tồn.

Lễ tế đình vạn

Tế đình vạn là một sinh hoạt lễ hội tương đối phổ biến ở cư dân đầm phá Thừa Thiên Huế, nhất là tại các khu vực đầm phá thuộc huyện Phú Lộc.

Mỗi vạn chài vùng đầm phá thường có một ngôi đình riêng của vạn, dùng làm nơi tế tự các tổ tiên của những dòng họ trong vạn, hoặc những người có nhiều công đức với vạn chài của họ. Đất dùng để dựng dình vạn có thể do xin được  của làng trên bờ, có thể là do mua lại của làng.

Đình vạn thường không lớn, cũng không phải là trung tâm sinh hoạt văn hoá-xã hội của ngư dân như đình làng của cư dân nông nghiệp. Quy mô và cấu trúc của đình vạn như một cái am lớn của cư dân làm nghề nông, và nó được xem là điểm mốc xác định khu vực cư trú của một vạn chài trên phá.

Lễ tế đình vạn được tổ chức hàng năm vào tháng hai và tháng tám âm lịch, gọi là xuân tế và thu tế. Cứ mỗi lần tế đình vạn, ngư dân trong vạn dù hành nghề ở đâu cũng cố gắng kéo về tụ tập để chung sức lo việc cúng tế. Khác với tế đình làng ở làng nông nghiệp là dựa vào kinh phí trích từ ruộng làng, cư dân đầm phá tiến hành tế đình lại trông cậy vào sự đóng góp của các thành viên của vạn. Việc thu tiền quyên góp để tế đình vạn thường do các ông xâu, ông trùm của vạn đảm trách.

Một buổi tế đình vạn của cư dân đầm phá về cơ bản cũng tương tự như một buổi tế đình của các làng nông nghiệp. Người Hội chủ của vạn đứng ra điều hành, chủ trì việc lễ tế, khấn vái tổ tiên các họ, các bậc khuất mặt có công đức với vạn, để cầu mong cho toàn vạn được may mắn, yên lành, làm ăn thuận lợi... Kết thúc cuộc tế đình vạn là sự họp mặt để ăn uống, vui chơi của toàn vạn, nhưng không phải ở đình vạn mà ở các con đò đậu sát vào nhau trên mặt nước.

Có thể nói đình vạn của cư dân đầm phá chỉ là nơi thực hiện những nghi lễ mang tính cộng đồng, là nơi cất giữ những bản vạn phổ của vạn. Nó không đảm nhận chức năng là pháp đình hương thôn, là trung tâm sinh hoạt văn hoá như các đình làng nông nghiệp. Mọi sinh hoạt chính của cư dân đầm phá đều diễn ra trên những con đò của họ. Nhưng dẫu sao các dịp tế đình vạn cũng là cơ hội cho các thành viên của vạn tề tựu đông đủ, thắt chặt lại mối dây liên hệ cộng đồng vốn rất mong manh, do tình trạng phân tán để theo đuôi con cá của từng gia đình nay đây mai đó trên đầm phá bao la rộng lớn ở Thừa Thiên Huế.

Lễ cúng Sơn thần-Thuỷ thần

Một trong những loại hình tín ngưỡng dân gian phổ biến ở người dân chài vùng đầm phá Thừa Thiên Huế là thờ cúng Thuỷ thần và Sơn thần.

Kỳ bí Tam Giang

Cuộc sống của người ngư dân gắn liền với mặt nước mênh mông của đầm phá, nơi chứa đựng nhiều bí ẩn của thế giới tự nhiên mà con người chưa thể nhận thức hết được. Con người vẫn luôn bé nhỏ trước sóng nước bao la được bao bọc chung quanh bởi các dãy núi hùng vĩ từ Trường Sơn đâm ra biển. Khung cảnh đầm phá hết sức kỳ ảo, thơ mộng vào những lúc thời tiết tốt đẹp. Song đến lúc trái gió trở trời, khung cảnh ấy lại trở nên hung hãn, dữ dằn đối với con người, sẵn sàng nhấn chìm con người xuống tận đáy nước quen thuộc của mình.

Trong những lúc mưa bão giông tố, ngồi trong lòng một con thuyền bé nhỏ giữa đầm phá mênh mông, ngư dân từ xưa đã nghĩ đến một thế lực siêu nhiên có quyền pháp ghê gớm, một loại thần linh với đầy đủ uy lực trong việc trừng phạt hoặc che chở cho con người qua cơn hoạn nạn. Từ việc tưởng tượng hoá thế lực siêu nhiên, ngư dân đầm phá đi đến chỗ thờ cúng Sơn thần-Thuỷ thần với mục đích cầu an cho cuộc sống bản thân và gia đình, cầu mong thánh thần che chở để thoát khỏi những cơn nguy hiểm luôn đe doạ đến tính mạng và mơ ước được thần linh phù hộ cho công việc hành nghề đánh bắt của mình được may mắn.

Sự tôn thờ Thuỷ thần-Sơn thần của cư dân đầm phá Thừa Thiên Huế không chỉ tồn tại trong tâm tưởng của họ, mà được biểu hiện cụ thể bằng việc xây dựng các ngôi miếu ven bờ đầm phá. Những miếu thờ Thuỷ thần-Sơn thần của cư dân đầm phá Thừa Thiên Huế còn tồn tại cho đến ngày nay như miếu La Khê giữa đầm Đả, miếu Cầu Hai nằm ở bên bờ Đá Bạc thuộc huyện Phú Lộc...

Lễ cúng bái Thuỷ thần-Sơn thần thường được tổ chức vào tháng ba và tháng bảy âm lịch, song kỳ thực quanh năm suốt tháng ngư dân vẫn luôn hương hoa thờ cúng không dứt. Lễ cúng Thuỷ thần-Sơn thần không giới hạn vào một hình thức tế lễ nào cả, bởi vì có thể là cả vạn chài, có thể là chỉ từng gia đình ngư dân tiến hành. Tất cả những cuộc cúng bái Thuỷ thần-Sơn thần đều nhằm mục đích cầu khẩn sự che chở từ phía thần linh đối với con người, cầu mong thần linh giúp đỡ con người trong quá trình sinh sống và hành nghề đánh bắt trên mặt nước của đầm phá.

Thờ cúng cá voi và cá vược

Cũng như ngư dân các làng đánh cá biển, cư dân đầm phá Thừa Thiên Huế rất phổ biến tục thờ cúng cá Ông (tức cá voi), nhất là khu vực cửa phá đổ ra biển. Theo lời kể của nhiều ngư dân đầm phá, thuở xa xưa cá voi đã từng trôi dạt vào khu vực đầm phá, cư dân ở đây tiến hành mai táng một cách trang trọng không khác gì cư dân biển, và họ vẫn thờ cúng rất chu đáo.

Mặc dù trong thực tế hiếm có trường hợp cá voi trôi vào phá, nhưng từ trong tiềm thức cư dân đầm phá, cá voi vẫn là một loại cá biển linh chuyên giúp đỡ người bị nạn, vì vậy họ sùng bái không kém gì dân biển.

Tuy nhiên, nếu như thờ cúng cá Ông chỉ là một tục lệ có tính chất kế thừa từ đời này sang đời khác, hoặc do ảnh hưởng từ cư dân nghề biển, thì việc kiêng cử bắt cá vược và lễ cúng cá vược lại là đặc trưng nổi bật của cư dân đầm phá Thừa Thiên Huế.

Cá vược là một loài cá khá to mà cư dân đầm phá tuyệt đối không bao giờ cố ý tìm bắt. Ngư dân đầm phá quan niệm cá vược là một cái gì đó bất khả xâm phạm, nếu đụng vào cá vược thì chắc chắn phải gánh chịu những hậu quả rủi ro, tai hại vô cùng, không sao lường trước. Do vậy trong cuộc đời hành nghề trên phá, ngư dân bao giờ cũng mong ước mình không đánh bắt nhằm cá vược.

Trong trường hợp chẳng may cá vược đóng lưới, ngư dân đành phải gỡ ra đem về, nhưng không bao giờ bán cho người khác mà giữ lại để ăn thịt. Và đồng thời ngay sau đó họ phải bày biện lễ vật để van xin, cầu khấn tại nơi cá vược bị mắc lưới của họ. Lễ cúng cá vược có thể có nhiều ít vật phẩm tuỳ theo gia chủ, nhưng có một loại luôn luôn phải có trong lễ cúng, đó là hình ảnh những con cá vược bằng giấy vàng bạc (đồ thợ mã). Sau khi lễ cúng hoàn tất, những con cá vược bằng giấy vàng bạc được thả xuống nước trôi đi tứ phía, và lúc ấy ngư dân mới yên tâm là mình đã trả lại linh hồn cho con cá vược, khỏi lo bị những ám ảnh về mặt tinh thần do đã xúc phạm vật linh của đầm phá.

Cá vược là loại cá linh và thường mang đến những tai hoạ ghê gớm cho người đánh cá theo quan niệm của ngư dân đầm phá Thừa Thiên Huế, vì vậy lễ cúng cá vược bao giờ cũng được tổ chức chu đáo và kính cẩn một khi ngư dân bắt nhằm chúng.

Lễ cầu ngư và hội đua thuyền

Giống như các làng biển, ngư dân đầm phá Thừa Thiên Huế cũng thực hiện lễ cầu ngư vào dịp cầu an đầu năm hoặc những lúc mất mùa.

Tuy nhiên, tại các làng biển ở Thừa Thiên Huế, lễ cầu ngư thường diễn ra ở đình làng với cảnh trình nghề tượng trưng vào dịp cầu an đầu năm, hoặc ở miếu thờ cá Ông vào dịp cầu ngư mùa hè. Còn đối với dân đầm phá, lễ cầu ngư bao giờ cũng thực hiện trên những con thuyền neo đậu trên mặt nước.

Thông thường, lễ cầu ngư của cư dân đầm phá không theo một chu kỳ nhất định nào cả. Năm nào thời tiết không thuận lợi, ngư dân hành nghề không có thu hoạch tốt, nói cách khác là bị mất mùa, thì họ lập tức tiến hành lễ cầu ngư để khắc phục.

Vạn là đơn vị tổ chức lễ cầu ngư trên mặt nước đầm phá, là người đứng ra quyên góp tiền bạc từ các thành viên của vạn để mua sắm vật phẩm tế lễ. Tuỳ theo khả năng quyên góp, ngư dân trong vạn mổ heo, giết gà... để làm lễ cầu ngư cho mình.

 

Lễ Cầu ngư ở Thuận An

Lễ cầu ngư của dân đầm phá bao giờ cũng có mâm cơm và lễ vật dâng cúng ngay giữa mặt nước. Và trong khi tiến hành cúng bái, người ta đem thả một số cá tôm tươi sống đánh bắt được trước đó (hoặc mua lại từ chợ) xuống lại dưới nước. Việc thả tôm cá sống trở lại đầm phá không hề mang ý nghĩa như lễ phóng sinh theo quan niệm đạo Phật, mà ở đây có mục đích rất rõ ràng là nhằm cầu mong cá tôm sinh sôi nảy nở nhanh chóng và phong phú, để công việc hành nghề đánh bắt của ngư dân gặt hái được kết quả tốt đẹp. Một bên thể hiện lòng từ bi tế độ muôn loài, không sát sanh hại vật, còn một bên nhắm vào mục tiêu giải quyết nạn mất mùa. Như thế, lễ cầu ngư của cư dân đầm phá Thừa Thiên Huế là một biện pháp tinh thần, dùng để khắc phục những hậu quả xấu về nghề nghiệp do từ phía tự nhiên mang lại. Đây chính là đặc trưng lớn của lễ hội cầu ngư ở vùng đầm phá, và trong chừng mực nhất định nó đã khiến cho lễ cầu ngư của cư dân đầm phá có đôi nét khác với lễ cầu ngư của cư dân miền biển.

Lễ cầu ngư đầm phá thường gắn liền với việc tổ chức đua thuyền kéo dài từ hai đến ba ngày. Đua thuyền (ghe) là một sinh hoạt vui vẻ của cư dân đầm phá, nhằm tạo ra khí thế lao động phấn chấn, sung sức cho thanh niên trai tráng và những ai còn đủ sức hoạt động nghề nghiệp trên sóng nước. Chính việc đua thuyền đã làm cho ngày lễ cầu ngư trở thành ngày hội văn hóa có tính chất truyền thống của cư dân đầm phá Thừa Thiên Huế.

Thuyền để đua có thể là thuyền rồng, có thể là những chiếc trải dài khoảng 12 đến 15 mét. Chiếc thuyền đua nào cũng được thiết kế thon, gọn và đằm để có sức cơ động cao và lướt nhanh trên mặt nước. Thuyền đua thường có mỗi chiếc từ 10 đến 15 người tuỳ quy định cụ thể của ban tổ chức, trong đó người chèo lái giữ trách nhiệm quan trọng và ảnh hưởng lớn đến thành công của toàn đội.

Đua thuyền trên phá Tam Giang

Trước ngày đua chính thức, những chiếc thuyền đua vốn được bảo quản cẩn thận ở trên khô được đưa xuống nước. Ngư dân đầm phá khi đưa thuyền đua xuống nước thường tổ chức lễ “tiền hạ thuỷ” nhằm cúng vái trời nước tổ tiên, thánh thần về phù hộ cho con cháu trong dòng họ được nhiều may mắn.

Vào buổi đua thuyền, trên mặt nước đầm phá người ta đã cắm ba cây vè là vè thượng, vè hạ và vè rốn với khoảng cách giữa chúng bằng nhau. Vè rốn cắm chính giữa vè thượng và vè hạ, là khu vực trung tâm để người xem tụ tập quan sát cổ vũ các thuyền đua, là điểm xuất phát và đích đến của những thuyền dự đua. Hàng thuyền đua xếp một dãy theo vị trí phân công của ban tổ chức để chờ hiệu lệnh. Sau khi hồi trống lệnh vừa dứt, những người chèo lái cầm chèo đưa ngang vái chào khán giả, rồi vừa đẩy thuyền rời khỏi chỗ vừa móc bơi chèo vào nọc chèo. Dù phải xếp hàng ở bất kỳ vị trí nào, các thuyền đua đều phải lộn qua vè rốn giống như trình diễn lực lượng của đội đua rồi nhắm hướng vè thượng thẳng tiến. Mỗi lúc lộn vè là một dịp chứng tỏ tài nghệ và kỹ thuật của người cầm chèo lái. Người chèo lái có nhiều kinh nghiệm lộn vè, chém vè thì thuyền đua của họ dễ bứt các thuyền đua khác và có hy vọng chiếm giải hơn.

Ngày trước, giải thưởng dành cho thuyền đua giật giải là mâm trầu rượu, một vài quan tiền, có khi là dải lụa đỏ... Đoạt giải đua thuyền không hề đem lại quyền lợi về mặt vật chất cho vạn của họ, mà chính là đem về cái vinh dự và niềm hãnh diện của một vạn chài.

Đua thuyền của cư dân đầm phá ngày trước được gắn liền với lễ cầu ngư mang đặc trưng riêng của họ. Ngày nay các cuộc đua thuyền trên đầm phá thường được tổ chức vào các ngày như tết cổ truyền của dân tộc, vào những ngày lễ trọng đại của quốc gia, tách xa dần sự gắn bó với lễ cầu ngư có tính chất hoạt động nghề nghiệp của họ.

Dầu sao đi nữa, những cuộc đua thuyền luôn tạo nên bầu không khí vui tươi, nhộn nhịp và rất lành mạnh cho tất cả mọi giới trên vùng đầm phá. Từ một lễ hội văn hoá truyền thống của cư dân sông nước, đua thuyền có sức hấp dẫn lôi cuốn không những trong nội bộ cư dân thuỷ diện, mà còn lan đến cả các làng nông nghiệp cận cư ven bờ.

Lễ cúng rào (hay lễ cúng nước)

Lễ cúng rào hay có nơi dân đầm phá còn gọi là lễ cúng nước thường được thực hiện tương đối giản dị. Lễ cúng của dân đầm phá cũng tương tự như dân trên bộ làm lễ cúng đất. Mục đích của lễ cúng rào là mong thánh thần che chở để được ăn yên ở yên, cô hồn uổng tử không phá phách, mùa màng được thuận lợi, tôm cá tràn đầy để  việc hành nghề được hanh thông.

Ngư dân đầm phá làm lễ cúng rào theo từng hộ gia đình, một năm một hoặc hai lần vào tháng hai hay tháng tám âm lịch, vật phẩm tuỳ theo khả năng mua sắm của gia chủ chứ không bắt buộc.

Lễ đóng cửa nước (hay lễ tạ đầm, lễ tất niên)

Đối với cư dân đầm phá, lễ đóng cửa nước thường được tổ chức vào những ngày cuối năm giáp tết âm lịch. Có vạn gọi đó là lễ tạ đầm hoặc lễ tất niên.

Lễ đóng cửa nước của cư dân đầm phá Thừa Thiên Huế cũng có ý nghĩa như lễ đóng cửa rừng của dân sơn tràng miền núi. Trong ngày lễ đóng cửa nước, tất cả các thành viên của vạn chài tập họp về địa điểm cư trú của vạn để tham gia tế lễ và chuẩn bị nghỉ ngơi ăn tết.

Hội chủ của vạn là người đứng ra thực hiện các nghi thức tế lễ, thay mặt toàn vạn tạ ơn các vị thánh thần đã giúp đỡ độ trì vạn chài một năm làm ăn bình yên hoặc có nhiều may mắn. Sau cuộc lễ, dân vạn tập trung ăn uống vui vẻ để kết thúc một năm làm lụng vất vả cực nhọc do phải theo đuôi con cá.

Từ sau ngày làm lễ đóng cửa nước, dân vạn không còn đi xa mà chỉ quanh quẩn trong phạm vi cư trú của vạn, chuẩn bị đón chào một năm mới sắp đến.

Lễ mở cửa nước (hay lễ khai niên)

Lễ mở cửa nước được thực hiện vào đầu năm mới, tuỳ theo ngày lành tháng tốt do dân vạn chọn lựa. Nhiều vạn chài cũng cũng gọi lễ mở cửa nước là lễ khai niên, tức lễ cúng năm mới.

Quy mô lễ mở cửa nước thường nhỏ hơn lễ đóng cửa nước, vật phẩm dâng cúng tương đối đơn giản chứ không bày biện linh đình. Thông thường, lễ mở cửa nước có hai mâm cúng tách bạch, gồm một mâm dâng cúng ông bà tổ tiên của gia chủ, một mâm dâng cúng Thuỷ thần, Sơn thần cùng các cô hồn của sông nước. Mục đích của lễ này là cầu mong thánh thần, tổ tiên phù hộ giúp đỡ cho dân vạn gặp may mắn tốt lành trong công việc sinh sống, làm ăn của năm mới. Cúng xong lễ, dân vạn bắt đầu triển khai kế hoạch làm ăn năm mới của mình.

Qua một số lễ hội của cư dân đầm phá Thừa Thiên Huế, chúng ta dễ dàng nhận thấy khía cạnh nguồn gốc tín ngưỡng lồng trong lễ hội. Hiện tại, tuy niềm tin vào thế lực siêu nhiên đã có phần giảm sút, nhưng cư dân đầm phá vẫn cử hành các lễ hội với ý nguyện cầu mong trời đất, thánh thần, tổ tiên, ông bà luôn phù hộ độ trì cho mình vẹn toàn trong cuộc sống lênh đênh trên mặt nước.

Xu hướng lễ hội cư dân đầm phá hiện nay là giảm dần ý nghĩa tín ngưỡng, bảo lưu ý niệm biết ơn trời đất và những người khuất mặt đã che chở, đùm bọc gia đình, dòng họ, dân vạn... trong cuộc sống vật lộn với sông nước để tồn tại. Uống nước nhớ nguồn là nét đẹp trong đạo lý truyền thống của dân tộc Việt Nam; vì vậy, ở góc độ nầy lễ hội dân gian cư dân đầm phá Thừa Thiên Huế mang tính tích cực.

Lễ hội của cư dân đầm phá trong thực tế là những buổi sinh hoạt cộng đồng từ gia đình đến dòng họ lên toàn vạn, và mở ra những quan hệ xã hội lớn hơn nữa. Do vậy, nếu có một tác động nhằm khắc phục những yếu tố dị đoan, lạc hậu, thì lễ hội vùng đầm phá sẽ là những sinh hoạt văn hoá bổ ích cho khu vực cư dân còn gắn liền với cuộc sống sông nước.

                                                                                                                                                                                                NQTT