hoc vi tinh

thiết kế website tại đà nẵng

thiết kế website tại đà nẵng

Ký sự thực địa của tình nguyện viên
Developed by JoomVision.com

Liên kết website

Liên kết-Quảng cáo

Trung tâm Thông Tin Thư viện

Khoa Môi trường

Bộ môn Bản đồ, viễn thám và GIS

Ký sự thực địa của tình nguyện viên

“Nghề đêm”…?

Khi bóng hoàng hôn lẫm thẫm và lấp lánh một màu đỏ trên mặt phá, những cánh chim mạnh dạn kéo mặt trời xuống núi; khi những sinh linh vạn vật gần chìm vào giấc ngủ, khi con người sau một ngày làm việc tất bật, trở về nhà để nghỉ ngơi và sum họp với người thân…, khi tất cả đều nhường lại không gian cho một thế giới đêm tĩnh mịch mà ta chỉ có thể cảm nhận trong mơ; thì, có ai biết rằng đó lại là khoảng thời gian mà những người dân định cư ven Phá Tam Giang cơm vắt mắm gói kéo nhau “ra đầm”.

Đứng trên bến vào của thuyền bè người dân lúc quá chiều, cơn gió thổi dài trên mặt nước ớn lạnh làm tôi nhớ đến câu nói của một ai đó rằng: “sinh nghề tử nghiệp”.

Mất khoảng gần một giờ đồng hồ đi xe máy là bạn có thể từ thành phố Huế về đến xã Vinh Hà, một trong năm xã nằm trong chương trình dự án mà trung tâm KHXH và NV Huế đang triển khai thực hiện. Con đường xuống đó đã quá quen thuộc với các anh chị trong trung tâm. Riêng tôi, ngày đầu tiên được xuống xã Vinh Hà với vai trò của một tình nguyện viên, một công việc tưởng chừng hợp “gu” với những người học xã hội và được thực hành kỹ năng xã hội. Thế nhưng không phải vậy. Mặc dù đã được tiếp xúc nhiều với cộng đồng, song không phải cộng đồng nào cũng giống nhau. Chính những lạ lẫm ban đầu cùng với những nét riêng cơ bản của một cộng đồng ngư dân mà đặc thù là tính chất của công việc đã khiến tôi không tránh khỏi những nghi ngờ cũng như những tò mò muốn tìm hiểu. Ý tưởng cho một bài viết tổng hợp về cuộc sống của những người dân thôn tái định cư tại đây đã đổ vỡ khi nhận ra rằng: chỉ một khía cạnh của đời sống người dân thôi cũng đã không thể viết hết bằng những lời đơn thuần, lại cũng không thể nhìn nhận và thâu tóm tất cả các vấn đề trong một thời gian ngắn. Để nhìn nhận đúng vấn đề và khách quan thì phải cần đến những người đã từng “nếm mật nằm gai”, cùng chịu khó chịu khổ đồng hành với người dân nơi đây. Điều đó không hoàn toàn đúng nhưng để một lần nữa khẳng định sự phức tạp hay tính nhiều mặt của một vấn đề mà suy nghĩ hay cảm nhận cá nhân luôn mang tính chủ quan.

Tranh thủ khoảng thời gian trước buổi tập huấn cho chi hội nghề cá của trung tâm, tôi lân lê vào một nhà dân gần nhà cộng đồng, nơi đang có bốn năm người đàn ông đang đợi tập huấn. Từ ngoài đường, tôi đã nghe họ cười nói với nhau rất to và vui vẻ, hình như là chuyện của công việc đêm qua. Tôi đang băn khoăn định chào để vào buôn chuyện thì có người đàn ông  da ngăm đen, thân hình rất chắc khoẻ, giọng khàn khàn đã chào trước và gọi vào. Thật ngại quá vì mới làm công việc tình nguyện viên, chưa gặp nhiều nên tôi chỉ biết người mà không biết tên, họ cũng vậy. Nhanh chóng nói qua loa vài câu, tôi được mời vào trong hội, chính giữa là một chai rượu bảy mươi, một cái ly nhỏ, một đĩa cá chiên cùng hai ba đôi đũa. “Chú mày biết nhậu không?” Một người bên cạnh cất lên, tôi cười một tiếng nghe nhàn nhạt: “dạ có sơ sơ ạ”! Người bên cạnh nhanh chóng cầm chai và rót cho tôi một ly. Kính cẩn mời xong tôi uống liền, không biết rượu ngon hay dở nhưng tôi chỉ thấy một cảm giác nóng ran đang từ từ chạy từ trên xuống. Một người cầm lấy đũa và gắp cho tôi nửa con cá chiên bảo thưởng thức ngay, không biết cá gì nhưng phải nói cá chiên thật tuyệt vời, phết thêm tí nước mắm tỏi ớt nữa là không khác gì món đặc sản cao cấp dành cho dân chuyên nhậu. Có lẽ tôi cũng chỉ thèm cá nên cố làm thêm ly, chứ thứ “sinh khí buổi sáng” như một người vừa nói đùa nhìn thấy vào buổi sáng, dù không biểu hiện bên ngoài nhưng cũng rợn cả gai ốc.

Không lãng phí thời gian, tôi nhanh chóng thực hiện mục đích làm công việc “phóng viên”của mình. Phải nói rằng, chén rượu không phải là “đầu câu chuyện” nhưng nó giúp con người dễ hoà nhập hơn. Qua những câu hỏi nhỏ bắt chuyện, kết hợp quan sát thái độ mới cảm nhận được sự chân thành của những người dân. Nhìn thái độ thân thiện và vui vẻ, không ai nghĩ rằng đêm qua là một “đêm trắng” với họ. Ánh mắt sâu hóm, nước da ngăm vì bị hâm bởi gió thổi trên nước, tiếng thở dài chân thật khi nói về nghề-cái nghề “hết mưa hết nước trọt” nhưng vẫn dai dẳng đeo bám họ cả mấy đời nay. Mọi sinh hoạt bình thường của quy luật đã bị nghề chi phối làm đảo lộn, ban ngày là đêm còn ban đêm là ngày, một lập trình ngược diễn ra khi mà tất cả đều thuận. Đúng là con người nhiều khi thích chống lại tự nhiên và không thích theo sự sắp đặt của tạo hoá.

Buổi tập huấn về lập kế hoạch cho sản xuất của người ngư dân khác với những nơi khác. Và thực tế mà nói thì cho dù đã lên kế hoach cho một hoạt động sản xuất cụ thể rồi song họ vẫn bị động về mặt thời gian. Công việc trên đầm phá khác với trên đồng ruộng, khác với trên bàn ghế và trên đất liền. Phụ thuộc vào tự nhiên như một yếu tố cần thiết. Sự lên xuống của con nước, mùa trăng khuyết tròn hay mưa nắng của quy luật mùa, tất cả đã hình thành trong mỗi ngư dân nơi đây một loại văn hoá “kinh nghiệm”, loại văn hoá trong nắm bắt nghề nghiệp, góp phần tạo nên một khía cạnh trong mối tổng hoà của một nền văn hoá – văn hoá về một vùng đất của những giai thoại ăn sâu trong tiềm thức của mỗi người.

Đang nói chuyện nghề rất sôi nổi nhưng cái ly vẫn quay vòng nhanh chóng, tôi phải đá vòng hai! Trước khi cầm cái ly tôi tranh thủ: “Hay tại các bác thấy làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm”?  Một người không cùng ngồi trong hội, cầm chiếc điếu tay trái và tay phải đang cầm ngọn đóm sáng loè, giọng khàn khàn cất lên: “Chú không biết ấy chứ, nghề của chúng tôi là ban đêm, còn ngày thì cũng làm nhưng làm vài xị rồi ngủ, chiều dậy cơm nước rồi lại ra phá, cuộc sống của các bác thế đó, quen vậy rồi”. Vừa dứt lời thì một tiếng riết kêu như máy cắt cây kéo dài, nín một lúc, làn khói hiếm hoi chạy đâu ra lấm chấm những màu bạc trắng cuồn cuộn như ngọn thác đổ ngang. Có lẽ làn khói thuốc lào thay cho tiếng thở dài đó đã cuốn đi tất cả những nhọc nhằn của một đêm trắng trên đầm phá, cuốn đi cả những vất vả lo toan về một cuộc mưu sinh có lập trình ngược. Điếu thuốc lào và chén rựợu sẽ giúp họ chuyền ngày thành đêm, và sâu thẳm trong tiềm thức thì những giấc mơ ban ngày lại tái hiện về một cuộc sống “nổi trôi” mà miệng hà bá luôn chầu chực và nuốt chửng họ không biết ngày giờ nào.

Cuộc sống có quá nhiều điều khiến con người phải suy nghĩ. Những cuộc chạy đua về kinh tế luôn đặt con người trong tình trạng “nước rút” mà đôi khi không biết đích ở đâu, chỉ biết đối thủ đang ở gần mình nên phải cố gắng. Đành rằng, miếng cơm manh áo ai cũng phải lo, nỗi lo đó không dành chỉ riêng cho mỗi người, mỗi gia đình, mỗi nhóm người riêng lẽ mà cho cả xã hội. Thế nhưng, mỗi thành phần trên lại chọn cho mình mỗi nghề để sống. Có người một nghề, người đa nghề, có nghề khổ nhưng không ai biết có nghề nào sướng không, tựu trung lại cũng chỉ để mưu sinh. Cái nghề làm đêm không kém đa dạng và có ở khắp mọi nơi, từ nông thôn đến thành thị, miền núi đến vùng biển, nhộn nhịp không kể hết. Đặc trưng nghề nghiệp đôi khi còn phụ thuộc vào những yếu tố khác của xã hội, nhưng thiết nghĩ không ai muốn lựa chọn nghề làm đêm, bởi đơn giản đó là khoảng thời gian nghỉ ngơi để lấy lại sức khoẻ sau một ngày dài trôi qua. Với những người dân vùng định cư ở thôn 5 xã Vinh Hà không thể tuân theo quy luật đó. Khoảng thời gian 17h chiều là mọi thứ đâu đã vào đấy, cơm nước, đồ nghề tươm tất, những người vợ tâm lý còn để chồng kèm thêm “vài xị” để tăng cường và bổ sung năng lượng chèo chống đêm khuya. Có nhà đi cả vợ lẫn chồng, có nhà thêm đứa con cùng đi, họ có mái ấm nhưng không được đoàn tụ trong đêm, con thơ ở lại, xóm làng vắng vẻ khi hoàng hôn buông xuống. Và từ trong tiềm thức, tôi tưởng tượng họ giống như những vị khách lữ hành vượt sông trong những tháng ngày dài đằng đẳng mà hành trang mang theo là những âu lo, những kiếp nghèo của cả thế giới.

Không phải ý thức con người quyết định sự tồn tại của mình, mà ngược lại, chính tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ. Sau buổi chiều tập huấn, nói chuyện với chi hội nghề cá xã của các anh chị trung tâm, tôi tranh thủ khoảng thời gian đi theo mấy người dân trên con đường dẫn ra đầm với những đoạn bị cắt ngang như con sông nhỏ, tôi xách dép, kéo quần, lội qua nơi thuyền ghe của người dân neo đậu. Một cảnh tượng mới hiện ra trước mắt trông thật mênh mông rộng lớn vô cùng. Tôi bị hớp hồn bởi cảnh vật. Mặt trời đo bằng cây sào kéo trời xuống thấp, có những cánh quạt chìa ra từ hướng Nam, một màu vàng phản xuống nước trông như một biển nước màu đã được pha sẵn để vẽ một bức tranh về cảnh tượng đó. Gió nhẹ nhưng cũng đủ để làm sóng sánh những con thuyền chông chênh, bỗng thấy bóng dáng một con thuyền đã ra xa, cảm giác giống hệt chia xa khiến tôi đang định nói một điều gì đó thì bất chợt, một cơn gió mạnh làm ớn lạnh cả người.

Những người đàn ông thân hình chắc khoẻ, làn da được tô đen xạm bởi những giọt nắng cuối cùng chiếu từ mặt đầm phá lên, hoà quyện trông giống màu pha trộn của hai loại nước sơn mài, họ đang nói chuyện với nhau về công việc đêm nay, vui vẻ nói vài câu đùa làm ồn ào cả một vùng. Có người đang ngồi trên bờ nhìn xuống, ánh mắt sâu hỏm nhìn xa vô tận, có người đang cúi mình tát nước trong ghe ra ngoài và hát một vài câu. Họ tát nước đi để cho ghe thuyền nhẹ và sạch hơn hay đang tát đi những gì của vất vả đêm hôm qua; họ hát để mang lại tinh thần và niềm hi vọng cho một cuộc mưu sinh mới trong đêm bắt đầu.

“Bây giờ đi thì khi nào về hả bác?”. Người đàn ông đang bắc tấm ván từ bờ ra thuyền. “Khoảng 5h sáng chú ạ!” “Vợ bác cũng đi à?” “Ừ, cả hai vợ chồng”. “Vất vả bác nhỉ?”. “Vất vả chứ, nhưng nghề mà chú…”. Chữ “nghề” nghe như rất nặng và có sự oán trách vậy. Tôi nhớ mang mang bài học về “cấu trúc xã hội” mà trong đó “phân tầng xã hội” là một nội hàm quan trọng chỉ sự phân bố không công bằng về các giá trị giữa các thành viên trong xã hội. Cảm nhận chủ quan trong lòng tôi bắt đầu độc thoại về những suy nghĩ và những câu hỏi không có lời giải đáp, tôi nghĩ đến người phụ nữ.

Hình ảnh người phụ nữ trên sông nước bắt gặp không nhiều trong thơ ca. Chúng ta có “hình ảnh người lái đò”, chúng ta có những “ngư ông” nhưng không có nhiều “ngư bà”. Điều đó rất khó để miêu tả hình ảnh trên như thế nào. Nhà thơ Tú Xương thương vợ lặn lội nơi sông nước liên tưởng đến “thân cò”. “Lặn lội thân cò khi quãng vắng. Eo sèo mặt nước buổi đò đông”. Nhưng ít ra “thân cò” thì cũng ban ngày còn ban đêm thì lẽ nào lại nhớ đến người chị em họ là “thân vạc”. Không! Tôi chỉ nghĩ vậy chứ không đem ra so sánh, vì chăng mọi sự so sánh đều khập khiễng, và ai bắt gặp hình ảnh đó cũng gợi lên trong mình những cảm nhận riêng nhưng không thể hoặc khó miêu tả bằng lời. Theo như lời kể của một phụ nữ đang đứng trên bờ, đợi người đàn ông lội dưới nước kéo thuyền vào để chuyển đồ đạc xuống. Nhìn chị tôi đoán không quá 30 tuổi, nhưng chắc vì sương gió làm nước da chị đen đen nên mới già đi như vậy. Gió trên phá bắt đầu thổi mạnh hơn. Tôi định cất tiếng chào để hỏi chuyện thì một đợt sóng va vào mạn thuyền nghe ồn ồn, thuyền chồng chềnh khiến người đàn ông giữ chiếc chèo lái lấy thăng bằng. Tôi tiến sát hơn và cất tiếng hỏi:

“Cả anh và chị cùng đi làm à?” Người đàn ông nhìn tôi trả lời: “Vâng! Có việc gì không chú?” Tôi cười nhạt: “Không ạ!” Tôi bắt đầu hỏi thăm về nhiều thứ trong lúc tranh thủ chút thời gian của họ đang soạn sửa. Thực ra sáng nay tôi đã biết được nhiều điều thông qua lời kể của mấy người đàn ông, nhưng bất ngờ hơn khi được ra tại nơi người dân bắt đầu một cuộc mưu sinh đầy cam go và vất vả. Không biết được người ta làm việc trên phá như thế nào, nhưng chỉ biết rằng cả hai vợ chồng cùng làm. Có nhiều gia đình có thêm cả những đứa con cùng đi theo phụ giúp, tất cả trên một chiếc thuyền với chiếc đèn chiếu và ngư cụ tiến ra phá khi mặt trời đã dần tắt.

Xét về yếu tố giới trong trong các lĩnh vực kinh tế thì phụ nữ đóng một vai trò và vị trí quan trọng. Ngư nghiệp là một lĩnh vực không chỉ có nam giới tham gia mà hiện nay nữ giới cũng tham gia ngày càng nhiều nhưng chủ yếu là trong nuôi trồng thuỷ sản. Trên thực tế phụ nữ thường tỏ rõ vai trò là người hỗ trợ đắc lực hoặc cùng với nam trong nuôi trồng, còn đánh bắt và khai thác do tính chất công việc nên không nhiều. Các đặc điểm sinh học như thể trạng, sức khoẻ không cho phép người phụ nữ phát huy hết khả năng trong vai trò đó. Thế nhưng người phụ nữ đầm phá thì khác. Công việc họ cùng đảm nhận là không nhỏ, và dường như yếu tố phân công lao động về giới là ngang nhau, điều này không phù hợp với khả năng của người phụ nữ. Mặc cho đêm hè khô nóng hay đêm đông mưa gió lạnh cóng cả thân mình, những phụ nữ này vẫn ra làm việc trên đầm. Người thì cùng chồng bủa lưới, người phụ giúp, người tự mình đánh bắt bằng các phương tiện khác, bằng mọi kiểu cách để thu được sản phẩm trên đầm phá. Công việc có vẻ quen thuộc, đến nỗi họ không còn thấy mệt là gì. Miếng ăn, cái mặc, con cái học hành, đồng tiền chi tiêu của gia đình ngày mai đang phụ thuộc trong đêm nay. Người phụ nữ hơn ai hết là người thấu hiểu nhất điều đó, họ cố gắng làm với chồng, động viên để ngày mai thêm phần trang trải cuộc sống. Khi được nhiều thì vợ chồng cùng phấn khởi, vui mừng, ấy khi đêm đông hay trái gió trở gió, trở về thuyền nhẹ cánh bay, nỗi lo của người phụ nữ lại canh cánh trong lòng. Chưa dừng lại ở đó, mặc dù không được chứng kiến cảnh những người phụ nữ tay xách nách mang những chiếc giỏ, kéo nhau ra đầm đi “mò”. Tưởng tượng cảnh những cái đầu nhấp nhô, di chuyển trên mặt nước, còn thân mình đã bị miệng “hà bá” nuốt chửng thật hãi hùng. Vất vả, cực nhọc là vậy, nhưng nghề đôi khi cũng do trời sinh, mà trời có sinh có dưỡng, họ vẫn nghĩ vậy. Cho nên, nếu trời mưa gió thì còn tuỳ, nhưng nắng ráo thì một tháng ba mươi đêm cũng gửi thân đến trên hai mươi đêm trên phá rồi. Cho dù biết nguy hiểm, vất vả nhưng vẫn làm và phải làm, vì đó là cuộc sống, cuộc sống đôi khi không công bằng như người ta vẫn nghĩ, sóng gió cuộc đời còn nguy hiểm hơn ngàn lần sóng biển, cuốn người ta đi lúc nào không hay.

Ảnh minh hoạ (Nguồn: songnuoctamgiang.com.vn)

Rồi mai đây, khi sức khoẻ kém đi, bệnh tật hình thành vì những tháng ngày ngâm mình trong nước, lấy tiền đâu chạy chữa bây giờ? Và cứ thế, vòng nghèo vẫn luẩn quẩn lại tiếp tục đeo bám họ không biết đến bao giờ thôi. Kêu khổ trời chẳng thấu, thôi đành chấp nhận số phận mong thế hệ sau sẽ đổi đời. Nhưng đổi bằng cách nào khi mà những đứa trẻ “ăn chưa no, lo chưa tới” vẫn đói chữ, tay chưa cầm bút đã điêu luyện với tay chèo, ước mơ đến trường của những đứa trẻ vẫn còn xa lắm. Vậy giấc mơ đổi đời cho thế hệ sau vẫn sẽ là giấc mơ.

Có ai giúp họ không? Những chuyến xe của các đoàn công tác thường ngày vẫn về với họ, động viên, chia sẻ để củng cố và cải thiện sinh kế, định hướng một cuộc sống tốt đẹp hơn cho tương lai. Nhưng  hơn lúc nào hết, ngay tại thời điểm hiện tại, chính bản thân họ phải tự giúp mình để giải phóng cái nghèo vốn đã “thâm căn cố đế” trên quê hương từ bao đời nay.

Trong suốt thời gian trên xe về Huế, hình ảnh những ngư dân với những cái nghề ở thôn 5 xã Vinh Hà khiến tôi lắng lòng trong những hồi ức thực tại. Trong đêm khuya với những cơn gió rú lạnh, những con sóng va nhịp mạn thuyền không đều nhau, bóng dáng những người dân đang lênh đênh, bồng bềnh theo sự lên xuống của những con nước để mưu sinh với cái nghề mà không một chút ánh sáng ban ngày: “nghề đêm”!...

                                                                                          Ngọc Thiện