hoc vi tinh

thiết kế website tại đà nẵng

thiết kế website tại đà nẵng

Khai thác và chia sẻ thông tin trong hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội
Developed by JoomVision.com

Liên kết website

Liên kết-Quảng cáo

Trung tâm Thông Tin Thư viện

Khoa Môi trường

Bộ môn Bản đồ, viễn thám và GIS

Khai thác và chia sẻ thông tin trong hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội

Đặc điểm của hoạt động khoa học xã hội là tìm kiếm các nguồn thông tin (thường được gọi là nguồn tưliệu) có độ tin cậy để xử lý và nghiên cứu, nhằm hình thành các mảng vấn đề theo hướng đề tài đã xác định để công bố. Chính vì thế, việc thu thập, khai thác, sở hữu, quản lý, chia sẻ thông tin thành văn và điền dã thực địa luôn có mối quan hệ hữu cơvà tạo thành một thể thống nhất, gọi chung là qui trình nghiên cứu.        

Những thông tin được khoa học xã hội quan tâm bao gồm mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, không hạn chế về thời điểm ra đời và xuất xứ của nguồn thông tin, trong đó thông tin chính thức từ văn bản của nhà nước và các cơ quan xuất bản rất được coi trọng.
          Tuy nhiên, qui trình nghiên cứu của một số ngành khoa học xã hội, như Sử học, Dân tộc học, Xã hội học, Công tác xã hội, Chính trị học… thường vấp phải nhiều khó khăn, nhất là ở khâu thu thập thông tin và chia sẻ/công bố thông tin. Riêng về thực trạng của việc thu thập, khai thác thông tin thành văn ở Việt Nam phục vụ các ngành khoa học xã hội, thường có những tình huống cụ thể sau:
          1/ Đối với nguồn thông tin do cơ quan nhà nước ở cấp trung ương quản lý, có 3 trường hợp khó khăn trong khai thác:
          a.    Các thông tin thuộc loại bí mật quốc gia, chưa được phép khai thác.
         b.    Các thông tin đã qua xử lý nghiệp vụ lưu trữ, được đưa ra cho phép khai thác, nhưng chỉ được khai thác một cách hạn chế và có điều kiện.
         c.    Các thông tin đã qua xử lý nghiệp vụ lưu trữ, được đưa ra cho phép khai thác không điều kiện, nhưng phí dịch vụ rất cao so với mặt bằng giá cả thị trường tự do.
        2/ Đối với nguồn thông tin do cơ quan nhà nước ở cấp địa phương quản lý, có 4 trường hợp khó khăn trong khai thác:
         a.    Các thông tin thuộc loại bí mật quốc gia, chưa được phép khai thác.
         b.    Các thông tin không còn được xem là bí mật quốc gia, nhiều cơ quan lưu trữ trung ương đã đưa vào phục vụ khai thác, nhưng cơ quan lưu trữ địa phương chưa được thủ trưởng chính quyền sở tại cho phép phục vụ khai thác.
        c.    Các thông tin đã được phép khai thác, nhưng do cán bộ phụ trách lưu trữ ít và yếu về trình độ chuyên môn và ngoại ngữ, nên chưa thể hoàn tất khâu xử lý nghiệp vụ lưu trữ, dẫn đến việc chưa thể phục vụ khai thác (thời hạn kéo dài không xác định).
        d.    Các thông tin đã được phép đưa vào khai thác, nhưng do bộ phận quản lý không muốn chia sẻ (vì nhiều mục đích), tìm cách né tránh, gây khó khăn hoặc từ chối yêu cầu khai thác.
        3/ Đối với nguồn thông tin do tư nhân sở hữu, quản lý, có 3 trường hợp khó khăn trong khai thác:
        a.    Chủ sở hữu từ chối cho phép khai thác thông tin (thường là các nguồn thông tin dạng độc bản hoặc hiếm hoi ở địa phương, ở trong nước, trên thế giới).
        b.    Chủ sở hữu đồng ý cho phép khai thác thông tin, nhưng với điều kiện kinh phí bồi hoàn rất cao, vượt quá khả năng đáp ứng của người khai thác.
        c.    Chủ sở hữu tự khai thác thông tin mình sở hữu, nhưng do hạn chế của bản thân nên chỉ khai thác dè sẻn hoặc không khai thác hết thông tin.
         Trong thực tế, các ngành khoa học xã hội thường đối mặt với cả việc khai thác các nguồn thông tin từ quá khứ lẫn hiện tại. Tài liệu quá khứ như hệ thống văn bản thời Pháp thuộc, của Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam trước 30/4/1975, của các tổ chức chính trị chống đối chế độ… được xem là tài liệu hạn chế, thuộc chế độ quản lý đặc biệt, không cho phép khai thác hoặc có những qui định chặt chẽ về khai thác cả ở cơ quan trung ương lẫn địa phương. Tài liệu hiện tại nếu liên quan bí mật quân sự, an ninh, chính trị, kinh tế, tôn giáo, quan hệ quốc tế, nguyên thủ quốc gia và các lãnh đạo cao cấp… cũng không thể hoặc rất khó tiếp cận, khai thác.
         Ở các cơ quan lưu trữ trung ương, ngoài tư liệu bảo mật quốc gia không được phép tiếp cận theo cách thông thường, một số tư liệu đã qua xử lý nghiệp vụ được đưa ra cho phép khai thác. Tuy nhiên, số tư liệu cho phép khai thác này tiếp tục được chia thành nhiều loại, trong đó có loại tư liệu chỉ đáp ứng cho nhu cầu của cơ quan chính quyền, ban ngành nếu thủ trưởng các đơn vị đó có văn bản yêu cầu vì mục đích chính đáng của cơ quan và được phê duyệt, như để viết lịch sử Đảng bộ, lịch sử địa phương hoặc ngành; có loại tư liệu cho phép cá nhân tiếp cận qua thư mục, nhưng phải trả phí dịch vụ cao nếu muốn có văn bản. Chẳng hạn, ở các Trung tâm lưu trữ Quốc gia I và II hoặc Thư viện Quốc gia, để có một trang tư liệu photo thời Pháp, như tờ Bulletin Économique de l’Indochine (Tập san Kinh tế Đông Dương), tờ Journal Officiel de l’Indo-chine Française (Công báo Đông Dương thuộc Pháp), người khai thác phải mất một khoản kinh phí lớn hơn so với giá một trang photo ngoài thị trường tự do.
         Ở các cơ quan địa phương, dạng tài liệu hạn chế càng khó khai thác hơn. Đối với những nhà khai thác thông tin theo dạng tự do, rất khó để họ có thể tiếp cận với nguồn thông tin lưu trữ ở Uỷ ban Nhân dân tỉnh hoặc thành phố, hay ở hệ thống thư viện. Ngay cả với những nhà nghiên cứu và giảng dạy ở các trường đại học, viện nghiên cứu; ước muốn khai thác thông tin từ kho lưu trữ của các UBND, Tỉnh uỷ, Thành uỷ cũng khó thành hiện thực, bởi nhiều khi phải nhờ đến sự cho phép của lãnh đạo cấp cao mới được đáp ứng. Ví dụ, một cán bộ giảng dạy đại học ở Huế đã phải đi lại nhiều lần mới được cán bộ kho lưu trữ của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cho tiếp cận bộ Bulletin Administratif de l’ Annam (Tập san Hành chính Trung Kỳ) xuất bản từ năm 1902 đến 1944.
         Những khó khăn từ khâu khai thác, chia sẻ  thông tin trong lĩnh vực khoa học xã hội tất yếu dẫn đến kết quả nhiều công trình nghiên cứu thiếu tính toàn diện, thiếu minh chứng cụ thể và sức thuyết phục không cao, không giải quyết rốt ráo những vấn đề xã hội quan tâm hoặc yêu cầu.
         Khai thác và chia sẻ, công bố thông tin là hoạt động đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của quốc gia và tiến trình hội nhập quốc tế. Trong lĩnh vực khoa học xã hội, việc chia sẻ thông tin cũng đang là nhu cầu hết sức bức thiết, bởi việc thiếu thông tin sẽ khiến chúng ta không hiểu đúng về mình, còn thế giới thì không hiểu hết chúng ta, gây cản trở cho sự hội nhập.
         Để việc khai thác, chia sẻ/công bố thông tin trong lĩnh vực khoa học xã hội tiến hành thuận lợi, cần phải có những thay đổi thực sự trong nhận thức của xã hội, của những nhà lãnh đạo, của cơ chế hiện hành. Những thay đổi đó có thể đạt được khi thực hiện được các yêu cầu sau:
         1. Nhà nước tiến hành phân loại tư liệu một cách cụ thể và sàng lọc chuẩn xác hơn đâu là loại tài liệu bí mật quốc gia, đâu là tài liệu thứ cấp có thể cho khai thác (có điều kiện hoặc không điều kiện), để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, hội nhập và phát triển đang đặt ra cho toàn thể xã hội.
        2. Nhà nước nhanh chóng có những văn bản pháp qui về thời điểm hết hạn bảo mật tư liệu, thông thường là 50 năm kể từ ngày tư liệu được cấu thành, để cơ quan lưu trữ các cấp dựa vào hành lang pháp lý chung, đạt được sự thống nhất trong phục vụ khai thác thông tin, tạo động lực cho việc nghiên cứu và phát triển.
        3. Cần phân biệt sự khác nhau giữa tài liệu bí mật quốc gia và tài liệu có quan điểm ngược lại chế độ. Không đưa những tài liệu có quan điểm ngược lại chế độ vào diện ngăn cấm khai thác, mà chuyển chúng sang diện cho phép khai thác có điều kiện, để phục vụ công tác nghiên cứu tốt hơn, đồng thời giảm bớt sự tò mò hoặc đổ xô khai thác các kênh thông tin ngoài luồng.
        4. Tại các cơ quan lưu trữ trung ương, phải xác định mục tiêu tối cao là bảo quản tốt tư liệu và chia sẻ thông tin tối đa cho người khai thác, không ngừng mở rộng đối tượng và điều kiện khai thác thông tin, ứng dụng rộng rãi các phương tiện công nghệ thông tin hiện đại để đạt sự tiện lợi cho người khai thác, giảm phí dịch vụ khai thác thông tin xuống ngang mức tối thiểu.
         5. Xã hội hoá thông tin đến mức tối đa trên tất cả các lĩnh vực, các phương tiện để chống độc quyền thông tin hoặc cát cứ thông tin, chống tệ nạn dùng quyền quản lý thông tin để thu lợi không chính đáng.
        6. Lãnh đạo chính quyền, cơ quan địa phương cần ý thức cao hơn về khả năng khai thác và đóng góp của nguồn thông tin trong các kho lưu trữ tại chỗ vào sự phát triển của địa phương cũng như quốc gia; có quyết tâm và giải pháp phát huy giá trị thông tin mình đang lưu trữ bằng sự mở rộng chia sẻ thông tin, chứ không phải bảo mật tối đa thông tin đang quản lý. Hạn chế chia sẻ thông tin của cơ quan địa phương một phần xuất phát từ năng lực, trình độ nhận thức hạn chế và quan điểm chưa thông thoáng của bộ phận lãnh đạo.
        7. Các cơ quan văn hoá, thông tin và các bộ phận chức năng cần mở rộng tiếp cận nguồn thông tin do cá nhân sở hữu, vận động có điều kiện và đáp ứng những yêu cầu tối thiểu để cá nhân thực hiện chia sẻ thông tin cho cộng đồng, góp phần vào sự phát triển chung của xã hội.
        Trên đây là những trăn trở từ quá trình khai thác và chia sẻ thông tin trong hoạt động khoa học xã hội của bản thân. Những ý kiến nêu ra chưa thật đầy đủ và còn ít nhiều mang tính chủ quan. Rất mong nhận được sự bổ sung, trao đổi, tranh luận và góp ý chân tình của mọi người.
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                           

  Huế, tháng 8 năm 2010
                                                                                                                                                                                                                               NQTT