hoc vi tinh

thiết kế website tại đà nẵng

thiết kế website tại đà nẵng

Đô thị hoá ở Phú Yên trong không gian khu vực duyên hải Nam Trung Bộ
Developed by JoomVision.com

Liên kết website

Liên kết-Quảng cáo

Trung tâm Thông Tin Thư viện

Khoa Môi trường

Bộ môn Bản đồ, viễn thám và GIS

Đô thị hoá ở Phú Yên trong không gian khu vực duyên hải Nam Trung Bộ

Đô thị hóaViệt Nam nói chung, khu vực duyên hải Nam Trung Bộ [i] nói riêng một hiện tượng hội xuất hiện từ nửa sau thế kỷ XIX, gắn liền quá trình dịch từ nông thôn ra thành thị, sự dịch chuyển nghề nghiệp theo hướng phi nông nghiệp, sự lấn lướt của các ngành nghề dịch vụ trên địa bàn, sự gia tăng nhanh chóng số lượng quy các tụ điểm kinh tế - dân , sự quản hội theo hình tổ chức hành chính đặc trưng của đô thị.

Tuy nền kinh tế công-thương nghiệp tại khu vực duyên hải Nam Trung Bộ phát triển chưa mạnh, nhưng sự ra đời của thành phố Đà Nẵng[ii] từ năm 1889 đã tạo nên hích quan trọng, thúc đẩy quá trình đô thị hoáđây diễn ra nhanh hơn. Đến cuối thế kỷ XIX, hàng loạt công trình đê điều, thuỷ nông được xúc tiến đã góp phần tác động tích cực đến nông nghiệp đời sống nông thôn, hình thành các trung tâm kinh tế-xã hội lớn, thì nhu cầu thiết lập quản các trung tâm dân càng trở nên bức thiết. Do đó, ngày 6 tháng 9 năm Thành Thái thứ 10 (20-10-1898), Mật Viện triều đình Huế đã lập tờ trình gửi Hoàng đế Nam triều đề nghị thiết lập các trung tâm đô thịmiền Trung.[iii]

Dựa vào tờ trình của Mật Viện, ngày 5 tháng 6 năm Thành Thái thứ 11 (12-7-1899), vua Thành Thái xuống Dụ công bố thành lập 6 thị (centre urbain), trong đó khu vực duyên hải Nam Trung Bộ 3 thị Faifo (Hội An), Quy Nhơn Phan Thiết.[iv] Căn cứ vào những đề nghị của Nam triều, ngày 13-7-1899 Khâm sứ Trung Kỳ Boulloché phê duyệt tờ Dụ của vua Thành Thái; đến 30-8-1899, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ra Nghị định chuẩn y.[v]

Đầu thế kỷ XX, đô thị ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ được mở rộng song song với việc xác lập ranh giới các đô thị. Một số đô thị được thành lập, như thị xã Phan Rí (15-11-1911).[vi] Sau chiến tranh thế giới 1914-1918, công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế được triển khai trên qui mô lớn, tốc độ đầu tư nhanh; nên quá trình đô thị hoá càng được đẩy mạnh, với sự mở rộng và nâng cấp đô thị trên địa bàn khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế-xã hội ngày càng cao. Do vậy, có thêm các đô thị mới xuất hiện, như thị xã Nha Trang (30-8-1924),[vii] thị xã Quảng Ngãi (3-7-1934).[viii] Một số thị xã ra đời từ cuối thế kỷ XIX đã chuyển mình để vươn lên trở thành thành phố loại III, gồm Quy Nhơn (1-7-1930)[ix] và Phan Thiết (28-11-1933).[x]

Bản đồ thị xã Nha Trang năm 1931 (Ảnh tư liệu)

Tính đến năm 1945, khu vực duyên hải Nam Trung Bộ có 3 thành phố và 3 thị xã, trong đó Đà Nẵng xếp loại thành phố cấp II (municipalité de 2e classe), Quy Nhơn và Phan Thiết là thành phố cấp III (commune); thị xã Hội An được đặt dưới chế độ của các văn bản triều đình Huế ngày 20-10-1898 và 12-7-1899, có thu nhập riêng và ngân sách riêng, còn hai thị xã Quảng Ngãi và Nha Trang thì phải nộp nguồn thu vào ngân sách hàng tỉnh. Quá trình phát triển đô thị thời cận đại ở Nam Trung Bộ gắn liền với việc xác lập guồng máy hành chính thuộc địa và sự phát triển của các trung tâm cảng và thương mại, nghỉ mát, du lịch.

Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi, Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước, sắp xếp lại các đơn vị hành chính. Vì thế, Đà Nẵng được đặt làm thành phố trực thuộc cấp Kỳ;[xi] các thành phố Quy Nhơn, Phan Thiết trở lại tên gọi thị xã. Đầu năm 1946, Chính phủ Việt Nam bãi bỏ cấp Kỳ và thay bằng cấp Bộ; giải tán các cấp hành chính châu, quận, phủ, tổng; thành lập chính quyền bốn cấp từ Bộ đến tỉnh-thành phố, huyện, xã.

Bản đồ thành phố Đà Nẵng năm 1931 (Ảnh tư liệu)

Tại Đà Nẵng, đô thị được mở rộng ở phía đông với việc sáp nhập thêm hai xã của huyện Hoà Vang. Toàn thành phố có 21 xã chia thành 3 khu là Trung, Đông, Tây. Vào tháng 4-1946, phiên họp đầu tiên của Hội đồng Nhân dân thành phố ra Nghị quyết phân chia địa giới hành chính thành phố thành 7 khu và đặt đảo Hoàng Sa làm xã trực thuộc thành phố Đà Nẵng. Nhưng đến 20-12-1946, khi Pháp chiếm đóng trở lại thì chính quyền cách mạng tổ chức thành 3 khu như cũ để tiện việc chỉ đạo. Trong các năm 1948-1949, nhằm tạo bàn đạp thâm nhập vào thành phố hoạt động, Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh tách thêm 7 xã của huyện Hòa Vang để sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng, chia toàn thành phố làm 6 khu, gồm 3 khu nội thành và 3 khu ngoại thành.

Trong kháng chiến chống Pháp, phần lớn đất đai các tỉnh thuộc Liên khu V không bị Pháp tái chiếm, nhưng do yêu cầu kháng chiến, nên đã có những điều chỉnh trong tổ chức đô thị. Thị xã Quy Nhơn chuyển thành xã đặc biệt Quy Nhơn; còn huyện Vĩnh Xương và thị xã Nha Trang được sáp nhập thành liên huyện thị Vĩnh Trang (10-1950). Đô thị khu vực duyên hải Nam Trung Bộ trong 9 năm chống Pháp không có sự mở rộng đáng kể; nhiều nơi hình thành hai hệ thống tổ chức hành chính Pháp-cách mạng đan xen nhau và thay đổi liên tục; diện mạo đô thị ít được cải thiện.

Sau Hiệp định Genève, Việt Nam tạm thời chia thành hai miền Nam-Bắc dựa theo vĩ tuyến 17, Chính phủ Việt Nam Cộng hoà được thành lập đã ban hành hiến pháp và tiến hành cải tổ nền hành chính từ trung ương đến cơ sở. Tháng 10-1955, thị xã Đà Nẵng được thành lập gồm 3 quận I, II, III với 18 khu phố. Đến 31-7-1962, tỉnh Quảng Nam bị chia thành hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Tín.[xii] Ngày 6-1-1973,thị xã Đà Nẵng được tổ chức lại với 3 quận, 19 phường, đặt dưới quyền điều hành của Hội đồng thị xã, gồm 12 ủy viên, do Thị trưởng đứng đầu.

Bản đồ thành phố Quy Nhơn năm 1931 (Ảnh tư liệu)

Để đối phó sự thay đổi đó, chính quyền cách mạng chia Quảng Nam thành hai tỉnh là Quảng Đà[xiii] và Quảng Nam.[xiv]  Đến tháng 11-1967, Khu ủy V ra quyết định sáp nhập tỉnh Quảng Đà và thành phố Đà Nẵng thành Đặc khu Quảng Đà.

Ở Bình Định, ngày 18-4-1961, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa cải biến thị xã Quy Nhơn cũ thành xã Quy Nhơn trực thuộc quận Tuy Phước. Địa phận xã Quy Nhơn gồm thị xã Quy Nhơn cũ và một phần đất thuộc các xã Phước Tấn, Phước Hậu thuộc quận Tuy Phước; có 15 ấp, diện tích khoảng 9km2, dân số 91.007 người. Năm 1970, xã Quy Nhơn và các vùng đất phụ cận được thành lập thị xã Quy Nhơn, gồm 4 xã (Quy Nhơn, Phước Hậu, Phước Tấn, Phước Hải) và chia thành 2 quận (Nhơn Bình, Nhơn Định).[xv] Đến 11-6-1971, thị xã Quy Nhơn được sắp xếp lại các đơn vị hành chính gồm 2 quận, 16 khu phố (sau đổi thành phường).[xvi]

Bản đồ thị xã Phan Thiết năm 1931 (Ảnh tư liệu)

Tại Phú Yên, năm 1958 Chính phủ Việt Nam Cộng hòa quy định đơn vị hành chính tỉnh Phú Yên gồm 5 quận là Đồng Xuân, Sông Cầu, Sơn Hòa, Tuy An, Tuy Hòa. Trong đó, phần đất thị xã Tuy Hòa về sau, gọi là xã Châu Thành, thuộc quận Tuy Hòa, có diện tích rộng 6,1km² với dân số 65.154 người.[xvii]

Đối với đô thị Nha Trang, ngày 28-8-1956, chính quyền Ngô Đình Diệm ra Dụ số 50 bãi bỏ quy chế thị xã, tách Nha Trang thành 2 xã là Nha Trang Đông và Nha Trang Tây thuộc quận Vĩnh Xương. Ngày 20-7-1970, các xã Nha Trang Đông, Nha Trang Tây, Vĩnh Phước, Vĩnh Hải, ấp Vĩnh Xuân xã Vĩnh Thái, ấp Vĩnh Điềm Hạ xã Vĩnh Hiệp, các ấp Ngọc Hội, Ngọc Thảo, Lư Cấm xã Vĩnh Ngọc thuộc quận Vĩnh Xương được tách ra để thành lập thị xã Nha Trang. Đến năm 1972, thị xã Nha Trang được chia làm 2 quận (I, II) với 11 phường.

Nhìn chung, đô thị khu vực duyên hải Nam Trung Bộgiai đoạn 1945-1975 vẫn nhỏ bé về quy mô, tổ chức hành chính liên tục thay đổi và chồng chéo, tính chất quân sự và tình trạng chiến tranh trở thành lực cản cho việc đô thị hoá trên toàn khu vực. Vì thế, quá trình đô thị hóa ở Phú Yên cũng chưa diễn ra mạnh mẽ.

Ngày 30-4-1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi trọn vẹn. Chiến tranh qua đi, thì những khó khăn thời hậu chiến là lực cản không nhỏ trên bước đường khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội của nhân dân Việt Nam. Đô thị khu vực duyên hải Nam Trung Bộ cũng chịu ảnh hưởng hậu quả chiến tranh và sự nhập tỉnh, tuy vậy thành phố Đà Nẵng và các thị xã Hội An, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Phan Thiết vẫn từng bước được phục hồi, trong khi nhiều đô thị khác có sự thay đổi khá mạnh mẽ.

Tháng 2-1976, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra Nghị định giải thể các khu, hợp nhất các tỉnh ở miền Nam.[xviii] Theo đó, hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà sáp nhập thành tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng. Ngày 30-8-1977, các quận I, II, III thuộc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng hợp nhất thành một đơn vị hành chính, trực thuộc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng, lấy tên là thành phố Đà Nẵng.[xix]

Năm 1976, hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình, thị xã Quy Nhơn là tỉnh lỵ. Do được tập trung đầu tư, Quy Nhơn phát triển rất nhanh; nên đến ngày 3-7-1986, Hội đồng Bộ trưởng quyết định thành lập thành phố Quy Nhơn trên cơ sở 8 phường, 7 xã của thị xã Quy Nhơn, với diện tích 212 km² và dân số 174.076 người.

Ở Phú Yên, sau ngày giải phóng quận Tuy Hoà được đổi thành huyện Tuy Hòa và lập thị xã Tuy Hoà có 8 phường, xã. Ngày 10-3-1977, huyện Tuy Hòa và thị xã Tuy Hòa hợp nhất thành một huyện có 25 phường xã lấy tên là Tuy Hòa.[xx] Đến ngày 22-9-1978, huyện Tuy Hòa chia thành hai đơn vị hành chính lấy tên là huyện Tuy Hòa và thị xã Tuy Hòa. Thị xã Tuy Hòa có 6 phường và 2 xã là Bình Kiến và Bình Ngọc.[xxi] Ngày 30-9-1981, xã Bình Kiến được chia thành hai đơn vị hành chính lấy tên là xã Hòa Kiến và xã Bình Kiến.[xxii] Đến 24-9-1981, thêm 6 xã phía bắc sông Đà Rằng thuộc huyện Tuy Hoà sáp nhập vào thị xã Tuy Hoà, nâng số xã, phường trong thị xã lên 15 đơn vị.

Tại Khánh Hoà, ngày 6-4-1975, Uỷ ban Quân quản chia Nha Trang thành 3 đơn vị hành chính gồm quận 1, quận 2 và quận Vĩnh Xương. Tháng 9-1975, hai quận 1 và 2 hợp thành thị xã Nha Trang. Ngày 30-3-1977, thị xã Nha Trang được nâng lên cấp thành phố trực thuộc tỉnh, là tỉnh lỵ tỉnh Phú Khánh (do hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hoà nhập lại). Phần đất 7 xã của huyện Vĩnh Xương cũ được tách ra khỏi huyện Khánh Xương để sáp nhập vào thành phố Nha Trang.[xxiii]

Trước năm 1976, thị xã Phan Rang là tỉnh lỵ tỉnh Ninh Thuận. Từ 1976, tỉnh Ninh Thuận hợp nhất với tỉnh Bình Thuận và tỉnh Bình Tuy thành tỉnh Thuận Hải, Phan Rang không còn là tỉnh lỵ. Ngày 27-4-1977, thị xã Phan Rang bị chia hai và hạ cấp xuống thành thị trấn Phan Rang (huyện lỵ huyện Ninh Hải) và thị trấn Tháp Chàm (huyện lỵ huyện An Sơn). Thị trấn Phan Rang có 6 phường, còn thị trấn Tháp Chàm có 3 phường. Ngày 1-9-1981, thị xã Phan Rang-Tháp Chàm được thành lập trên nền tảng sáp nhập hai thị trấn được chia ra vào năm 1977, gồm 12 đơn vị phường, xã.[xxiv]

Nhìn chung, công cuộc đô thị hoá ở giai đoạn này chỉ mới nhắm đến việc khắc phục những đổ nát, hoang tàn do chiến tranh gây ra, chứ chưa tạo nên sức bật thật sự cho nhịp sống đô thị. Nhiều người dân thị thành lui về quê cũ làm nông nghiệp, hay đi các vùng kinh tế mới để canh tác đất đai kiếm sống. Việc nhập tỉnh thành những đơn vị tỉnh lớn hơn trong giai đoạn này cho phép một số đô thị được mở rộng, nhất là đô thị tỉnh lỵ; nhưng sự mở rộng chỉ mới nghiêng về xác lập không gian hành chính một cách khiên cưỡng mà chưa có sự tương xứng với sự phù hợp không gian đô thị, nên thiếu tính bền vững, chưa tạo ra động lực phát triển trên địa bàn. Đó cũng là hệ quả tất nhiên từ nền kinh tế vận hành theo cơ chế quan liêu, bao cấp, không phù hợp với qui luật phát triển đô thị và đô thị hoá.

Sau hơn 10 năm chuyển mình khó khăn, đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ tháng 12-1986 đã mở ra thời kỳ phát triển mới, kinh tế-xã hội bắt đầu khởi sắc, tác động trực tiếp đến các đô thị khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, tạo nên sự đột phá cho quá trình đô thị hoá. Nhiều đô thị bắt đầu phát triển mạnh cơ sở hạ tầng và đa dạng hoá các ngành kinh tế, khiến mức độ tập trung dân cư tăng nhanh, hình thành nhu cầu khách quan mở rộng và nâng cấp đô thị, đồng thời xuất hiện thêm hàng loạt đô thị từ thị trấn đến thị xã và thành phố.

Tại Quảng Nam-Đà Nẵng, ngày 6-11-1996, Đà Nẵng tách khỏi tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng để thành lập thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương, xếp hạng đô thị loại II. Đà Nẵng có 7 đơn vị hành chính gồm các quận Hải Châu, Liên Chiểu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, huyện Hoà Vang và huyện đảo Hoàng Sa; diện tích 942,46 km2; dân số 663.115 người.[xxv] Đến 15-7-2003, Đà Nẵng được công nhận là đô thị loại I.[xxvi]Ngày 29-8-2005, thêm quận Cẩm Lệ[xxvii] được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các xã Hòa Thọ Đông, Hòa Thọ Tây, Hòa Phát, Hòa An, Hòa Xuân thuộc huyện Hòa Vang, toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của phường Khuê Trung thuộc quận Hải Châu; với tổng diện tích tự nhiên là 3.330ha và 71.429 nhân khẩu. Đến đây, thành phố Đà Nẵng có 6 quận và 2 huyện.

Ở Quảng Nam, vào 29-9-2006, thành phố Tam Kỳ thuộc tỉnh Quảng Nam được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Tam Kỳ.[xxviii] Thành phố Tam Kỳ có 9.263,56 ha diện tích tự nhiên và 123.662 nhân khẩu; có 13 đơn vị hành chính phường, xã. Tiếp đó, ngày 29-01-2008, thành phố Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Hội An.[xxix] Thành phố Hội An có 6.146,88 ha diện tích tự nhiên và 121.716 nhân khẩu, có 13 đơn vị hành chính phường, xã trực thuộc.

Ở Quảng Ngãi, sau thời gian dài tách khỏi tỉnh Nghĩa Bình, ngày 26-8-2005, thành phố Quảng Ngãi được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Quảng Ngãi.[xxx] Thành phố Quảng Ngãi có 3.712 ha diện tích tự nhiên và 133.843 nhân khẩu, có 10 đơn vị hành chính phường, xã trực thuộc.

Tại Bình Định, năm 1989 tỉnh Bình Định được tái lập, thành phố Quy Nhơn là tỉnh lỵ. Ngày 4-7-1998, Quy Nhơn được công nhận là đô thị loại II.[xxxi] Đến 25-1-2010, thành phố Quy Nhơn được nâng cấp lên đô thị loại I trực thuộc tỉnh Bình Định.[xxxii] Năm 2010, thành phố Quy Nhơn có 16 phường và 5 xã, với tổng diện tích là 286 km², dân số khoảng 280.900 người.

Tại Khánh Hòa, vào 01-7-1989, tỉnh Khánh Hòa được tái lập từ tỉnh Phú Khánh, thành phố Nha Trang là tỉnh lỵ. Ngày 22-4-1999, thành phố Nha Trang được công nhận là đô thị loại II.[xxxiii] Đến 22-4-2009, thành phố Nha Trang là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Khánh Hòa.[xxxiv] Thành phố Nha Trang có diện tích tự nhiên là 251 km2, dân số 361.454 người, gồm 27 đơn vị hành chính, trong đó có 19 phường nội thành. Vào 7-7-2000, huyện Cam Ranh cũng được nâng lên thành thị xã Cam Ranh trực thuộc tỉnh Khánh Hoà. Ngày 30-6-2009, thị xã Cam Ranh được công nhận là đô thị loại III.[xxxv]

Ở Ninh Thuận, ngày 8-2-2007, thành phố Phan Rang-Tháp Chàm thuộc tỉnh Ninh Thuận được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Phan Rang - Tháp Chàm.[xxxvi] Thành phố Phan Rang-Tháp Chàm có 7.937,56 ha diện tích tự nhiên, dân số 162.941 người, có 15 đơn vị hành chính phường, xã trực thuộc.

Ở tỉnh Bình Thuận, ngày 25-8-1999, thành phố Phan Thiết được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Phan Thiết,[xxxvii] với 20.586 ha diện tích tự nhiên và 186.404 nhân khẩu, gồm 15 đơn vị hành chính trực thuộc (10 phường và 5 xã). Ngày 24-6-2009, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận được công nhận là đô thị loại II, trực thuộc tỉnh Bình Thuận.[xxxviii] Ngoài ra, vào 5-9-2005, còn có thị xã La Gi được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị trấn La Gi và các xã Tân An, Tân Thiện, Tân Bình, Tân Hải thuộc huyện Hàm Tân. Thị xã La Gi có 18.282,64 ha diện tích tự nhiên và 112.558 nhân khẩu.[xxxix]

Đối với địa bàn Phú Yên, ngày 30-6-1989, Quốc hội ra Nghị quyết chia tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Tỉnh Phú Yên có 7 đơn vị hành chính gồm thị xã Tuy Hòa và 6 huyện: Đồng Xuân, Tuy An, Sông Cầu, Sông Hinh, Tuy Hòa, Sơn Hòa. Tỉnh lỵ Phú Yên đặt tại thị xã Tuy Hòa, có 6 phường và 10 xã với diện tích 339km2 và 185.700 dân. Đến 28-4-1999, phường 2 được chia thành phường 2 và phường 8,[xl] phường 5 chia thành phường 5 và phường 7,[xli] nâng số đơn vị của thị xã Tuy Hòa lên 8 phường và 10 xã.[xlii]

Vào 31-1-2002, thị xã Tuy Hòa được chia thành hai đơn vị hành chính là thị xã Tuy Hòa và huyện Phú Hòa. Huyện Phú Hoà được thành lập trên cơ sở 26.324 ha diện tích tự nhiên và 98.044 nhân khẩu của thị xã Tuy Hoà cũ. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập huyện Phú Hoà, thị xã Tuy Hoà còn lại 6.436 ha diện tích tự nhiên và 96.904 nhân khẩu, gồm 11 đơn vị hành chính trực thuộc là 8 phường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 3 xã: Bình Ngọc, Bình Kiến, Hoà Kiến.[xliii] Tháng 8-2002, thị xã Tuy Hòa được công nhận là đô thị loại III. Đến 20-8-2003, thành lập thêm phường 9 thuộc thị xã Tuy Hoà trên cơ sở tách 1.002,8 ha diện tích tự nhiên và 11.872 nhân khẩu của xã Bình Kiến. Sau khi thành lập phường 9, xã Bình Kiến còn lại 1.269,2 ha diện tích tự nhiên và 5.998 nhân khẩu.[xliv]

Ngày 5-1-2005, thành phố Tuy Hoà trực thuộc tỉnh Phú Yên được thành lập trên cơ sở toàn bộ 6.436 ha diện tích tự nhiên và 123.820 nhân khẩu với 12 đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Tuy Hoà; đồng thời chuyển toàn bộ 2.059 ha diện tích tự nhiên và 30.724 nhân khẩu của thị trấn Phú Lâm, huyện Tuy Hoà (và thành lập phường Phú Lâm từ thị trấn Phú Lâm) cùng 2.187 ha diện tích tự nhiên và 7.734 nhân khẩu của xã An Phú, huyện Tuy An về thành phố Tuy Hoà. Sau khi thành lập và điều chỉnh, thành phố Tuy Hoà có 10.682 ha diện tích tự nhiên và 162.278 nhân khẩu, với 14 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 10 phường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, phường Phú Lâm và 4 xã: Bình Ngọc, Bình Kiến, Hoà Kiến và An Phú.[xlv] Ngày 03-12-2007, phường Phú Lâm chia thành 3 phường Phú Lâm,[xlvi] Phú Thạnh,[xlvii] Phú Đông.[xlviii]Đến đây, thành phố Tuy Hòa có 10.682 ha diện tích tự nhiên và 142.673 nhân khẩu với 16 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 12 phường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, Phú Lâm, Phú Thạnh, Phú Đông và các xã: Bình Ngọc, Bình Kiến, Hòa Kiến, An Phú.[xlix]

Ngoài thị xã Tuy Hòa, các thị trấn cũng được thành lập gồm thị trấn La Hai (ở huyện Đồng Xuân), thị trấn Sông Cầu (ở huyện Sông Cầu), thị trấn Chí Thạnh (ở huyện Tuy An), thị trấn Củng Sơn (ở huyện Sơn Hòa),[l] thị trấn Hai Riêng (ở huyện Sông Hinh), thị trấn Phú Lâm (ở huyện Tuy Hòa). Ngày 3-12-2007, có thêm thị trấn Phú Hòa ở huyện Phú Hòa được thành lập trên cơ sở điều chỉnh 1.779,26 ha diện tích tự nhiên và 8.924 nhân khẩu của xã Hòa Định Đông.[li]

Riêng thị trấn Sông Cầu, ngày 16-5-2005 thị trấn này được chia thành hai đơn vị hành chính là thị trấn Sông Cầu và xã Xuân Lâm.[lii] Ngày 27-8-2009, thị xã Sông Cầu được thành lập trên cơ sở trên cơ sở toàn bộ 48.928,48 ha diện tích tự nhiên và 101.521 nhân khẩu của huyện Sông Cầu (bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các xã: Xuân Thọ 1, Xuân Thọ 2, Xuân Lâm, Xuân Phương, Xuân Thịnh, Xuân Cảnh, Xuân Hòa, Xuân Bình, Xuân Lộc, Xuân Hải và thị trấn Sông Cầu).

Cùng với việc thành lập thị xã Sông Cầu, có 4 phường trong thị xã được thành lập là Xuân Yên (trên cơ sở điều chỉnh 229,34 ha diện tích tự nhiên và 668 nhân khẩu của xã Xuân Phương; 273,01 ha diện tích tự nhiên và 5.201 nhân khẩu của thị trấn Sông Cầu; tổng cộng có 502,35 ha diện tích tự nhiên và 5.869 nhân khẩu), Xuân Phú (trên cơ sở điều chỉnh 1.116,61 ha diện tích tự nhiên và 8.324 nhân khẩu từ thị trấn Sông Cầu), Xuân Thành (trên cơ sở 163,00 ha diện tích tự nhiên và 6,047 nhân khẩu còn lại của thị trấn Sông Cầu; 365,57 ha diện tích tự nhiên và 3.074 nhân khẩu của xã Xuân Thọ 1; 9,08 ha diện tích tự nhiên và 120 nhân khẩu của xã Xuân Lâm; tổng cộng có 537,65 ha diện tích tự nhiên và 9.241 nhân khẩu), Xuân Đài (trên cơ sở điều chỉnh 418,57 ha diện tích tự nhiên và 3.145 nhân khẩu của xã Xuân Thọ 1; 643,30 ha diện tích tự nhiên và 5.858 nhân khẩu của xã Xuân Thọ 2; tổng cộng có 1.061,87 ha diện tích tự nhiên và 9.003 nhân khẩu). Toàn thị xã Sông Cầu có 14 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 4 phường: Xuân Yên, Xuân Phú, Xuân Thành, Xuân Đài và 10 xã: Xuân Thọ 1, Xuân Thọ 2, Xuân Lâm, Xuân Phương, Xuân Thịnh, Xuân Cảnh, Xuân Hòa, Xuân Bình, Xuân Lộc, Xuân Hải.[liii]

Tính đến đầu năm 2011, tỉnh Phú Yên có 7 đơn vị hành chính đô thị là thành phố Tuy Hòa, thị xã Sông Cầu và các thị trấn La Hai, Chí Thạnh, Củng Sơn, Hai Riêng, Phú Hòa.

Nhìn chung, trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, Phú Yên cùng tất cả các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ đều tham gia vào quá trình đô thị hoá, hình thành các trung tâm đô thị đa dạng và là động lực, mục tiêu phát triển của địa phương. Diện mạo kinh tế-xã hội của khu vực duyên hải Nam Trung Bộ được cải thiện rất nhiều từ quá trình đô thị hoá, chỉ còn rất ít địa bàn cấp huyện chưa có tổ chức hành chính đô thị.

Tính đến đầu năm 2011, khu vực duyên hải Nam Trung Bộ có 9 thành phố, gồm 3 thành phố được xếp hạng đô thị loại I là Đà Nẵng, Quy Nhơn và Nha Trang (trong đó Đà Nẵng trực thuộc Trung ương); 1 thành phố được xếp hạng đô thị loại II là Phan Thiết; 5 thành phố được xếp hạng đô thị loại III là Hội An, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Tuy Hòa, Phan Rang-Tháp Chàm. Thị xã Cam Ranh cũng được xếp hạng đô thị loại III. Tính cả đô thị loại IV, loại V cùng nhiều thị tứ khác đang trổi dậy trên địa bàn, thì đô thị khu vực duyên hải Nam Trung Bộ khá vượt trội về số lượng so với các vùng miền khác.

Trong các đô thị trẻ, thành phố Tuy Hòa đang ngày càng khẳng định vị thế của mình ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ. Các đô thị khác ở Phú Yên cũng thể hiện được vai trò động lực, góp phần thúc đẩy sự phát triển ở địa phương, là chỗ dựa vững chắc cho tỉnh Phú Yên đang ngày càng vươn lên mạnh mẽ để hợp thành hệ thống đô thị khu vực duyên hải Nam Trung Bộ hướng đến sự phát triển bền vững.

*

*                    *

Qua quá trình đô thị hóa ở Phú Yên nói riêng, khu vực duyên hải Nam Trung Bộ nói chung, có thể khẳng định các đô thị ở Phú Yên tuy xuất phát chậm hơn so với nhiều tỉnh miền Trung cũng như cả nước, song đã có một bước tiến khá dài trên con đường hội nhập với thế giới. Có được điều đó, một phần là nhờ kết quả khách quan từ xu hướng của thời đại, từ sự năng động của vùng đất và con người trên địa bàn thời kỳ đổi mới, từ việc phát huy được tiềm năng và thế mạnh vùng duyên hải của mình. Thành tựu đó vô cùng quý giá, bởi trước đó, Phú Yên vẫn còn gắn với sự nghèo đói, tốc độ đô thị hóa chậm chạp.

Trong thời kỳ đổi mới, tại Phú Yên nói riêng, khu vực duyên hải Nam Trung Bộ nói chung đã có sự gia tăng nhảy vọt về qui mô và số lượng các đô thị. Nhiều địa phương ở Phú Yên, với thành phố Tuy Hòa là trung tâm, đã diễn ra quá trình đô thị hoá khá nhanh, hình thành các loại hình đô thị khá đa dạng, đồng thời giữ vai trò động lực, mục tiêu phát triển của tỉnh Phú Yên. Diện mạo kinh tế-xã hội của tỉnh Phú Yên cũng như khu vực duyên hải Nam Trung Bộ được cải thiện rõ rệt.

Dẫu còn nhiều bất cập về chất lượng đô thị, quy mô và trình độ tổ chức quản lý đô thị chưa tương xứng, nhưng quá trình đô thị hoá ở Phú Yên vẫn đang tiếp diễn. Tuy Hòa và các đô thị khác ở Phú Yên sẽ tiếp tục khẳng định được vai trò và sức sống mãnh liệt của mình trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của khu vực duyên hải Nam Trung Bộ.  

                                                               Huế, tháng 3 năm 2011

                                                                                                  NQTT

 


[i] Khái niệm khu vực duyên hải Nam Trung Bộ dùng trong bài viết này bao gồm các tỉnh và thành phố là Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận.

[ii] Đà Nẵng là thành phố cấp II.

[iii]Rapport du Comat à S.M. l’Empereur d’Annam, en date du 6 du 9e mois de la 10e année de Thanh Thai (20 Octobre 1898), Journal officiel de l’ Indo-chine francaise (JOIC), 1902, p. 150.

[iv]Ordonnance en date du 5 du 6e mois de la 11 année de Thanh Thai (12 Juillet 1899), Journal officiel de l’ Indo-chine francaise (JOIC), 1902, p. 150.

[v]Le Gouverneur Général de l’ Indo-chine, L’ Arrêté du 30 aout 1899, Journal officiel de l’ Indo-chine francaise (JOIC), 1902, p. 147.

[vi] Đến 18-2-1916, thị xã Phan Rí bị xoá bỏ bởi Nghị định của Toàn quyền Đông Dương.

[vii] Ngày 11-6-1924, vua Khải Định xuống Dụ và ngày 30-8-1924, Toàn quyền Đông Dương chuẩn y thành lập thị xã Nha Trang (le centre urbain de Nha-trang).

[viii] Ngày 25-6-1934, vua Bảo Đại xuống Dụ và ngày 3-7-1934, Khâm sứ Trung Kỳ chuẩn y thành lập thị xã Quảng Ngãi (le centre urbain de Quang-ngai).

[ix] Ngày 30-4-1930, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định nâng cấp thị xã Quy Nhơn lên thành phố Quy Nhơn (commune de Qui-nhon) kể từ ngày 1-7-1930.

[x] Ngày 28-11-1933, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định nâng thị xã Phan Thiết lên thành phố Phan Thiết (commune de Phan-thiet).

[xi]Theo Sắc lệnh số 77, ngày 21-12-1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

[xii] Sắc lệnh số 162-NV, ngày 31-7-1962 của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

[xiii] Gồm 5 huyện Hòa Vang, Đại Lộc, Thống Nhất, Điện Bàn, Duy Xuyên, thành phố Đà Nẵng, thị xã Hội An.

[xiv] Gồm 6 huyện Quế Sơn, Nam Tam Kỳ, Bắc Tam Kỳ, Thăng Bình, Tiên Phước, Trà Sơn.

[xv] Theo Sắc lệnh số 1135 SL/NV, ngày 30-9-1970 của Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa.

[xvi]Theo Nghị định số 494 BNV/HCĐP/26/ĐT/NĐ, ngày 11-6-1971 của Tổng trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa.

[xvii]Theo Nghị định số 263-BNV, ngày 27-5-1958 của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

[xviii] Thực hiện theo Nghị quyết số 245-NQTW của Bộ Chính trị về việc bỏ đơn vị khu, sáp nhập tỉnh và Nghị quyết số 19/NQ ngày 20-12-1975 của Bộ Chính trị về việc điều chỉnh, hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam.

[xix] Nghị định số 228-CP, ngày 30-8-1977 của Hội đồng Chính phủ.

[xx] Quyết định số 49/CP, ngày 10-3-1977 của Hội đồng Chính phủ.

[xxi] Quyết định số 241/CP, ngày 22-9-1978 của Hội đồng Chính phủ.

[xxii] Quyết định số 100/HĐBT, ngày 30-9-1981 của Hội đồng Bộ trưởng.

[xxiii]Quyết định số 391-CP/QĐ, ngày 30-3-1977 của Hội đồng Chính phủ.

[xxiv] Quyết định số 45/HĐBT, ngày 1-9-1981 của Hội đồng Bộ trưởng.

[xxv] Theo sựphê chuẩn của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa IX, kỳ họp thứ 10, ngày 6-11-1996.

[xxvi] Quyết định số 145/2003/QĐ-TTg, ngày 15-7-2003 của Thủ tướng Chính phủ.

[xxvii]Nghị định số 102/2005/NĐ-CP, ngày 29-8-2005 của Chính phủ.

[xxviii]Nghị định số 113/2006/NĐ-CP ngày 29-9-2006 của Chính phủ.

[xxix]Nghị định số 10/2008/NĐ-CP ngày 29-01-2008 của Chính phủ.

[xxx]Nghị định số 112/2005/NĐ-CP ngày 26-8-2005 của Chính phủ.

[xxxi] Quyết định số 558/1998/QĐ-TTg, ngày 4-7-1998 của Thủ tướng Chính phủ.

[xxxii] Quyết định số 159/2010/QĐ-TTg, ngày 25-1-2010 của Thủ tướng Chính phủ.

[xxxiii]Nghị định 106/1999/NĐ-CP, ngày 22-4-1999 của Chính phủ.

[xxxiv] Quyết định số 518/2009/QĐ-TTg, ngày 22-4-2009 của Thủ tướng Chính phủ.

[xxxv]Quyết định 717/QĐ-BXD ngày 30-6-2009 của Bộ Xây dựng.

[xxxvi]Nghị định số 21/2007/NĐ-CP ngày 8-2-2007 của Chính phủ.

[xxxvii]Nghị định số 81/1999/NĐ-CP ngày 25-8-1999 của Chính phủ.

[xxxviii] Quyết định số 890/QĐ-TTg, ngày 24-6-2009 của Thủ tướng Chính phủ.

[xxxix]Nghị định số 114/2005/NĐ-CP ngày 5-9-2005 của Chính phủ.

[xl] Phường 8 thị xã Tuy Hòa thành lập trên cơ sở 140 ha diện tích tự nhiên và 7.073 nhân khẩu của phường 2. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, phường 2 còn 64 ha diện tích tự nhiên và 8.865 nhân khẩu.

[xli] Phường 7 thị xã Tuy Hòa thành lập trên cơ sở 150,8 ha diện tích tự nhiên và 5.938 nhân khẩu của phường 5. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, phường 5 còn 139,2 ha diện tích tự nhiên và 9.444 nhân khẩu.

[xlii] Nghị định số 31/1999/NĐ-CP, ngày 28-4-1999 của Chính phủ.

[xliii] Nghị định số 15/2002/NĐ-CP, ngày 31-1-2002 của Chính phủ.

[xliv] Nghị định số 95/2003/CP, ngày 20-8-2003 của Chính phủ.

[xlv]Nghị định số 03/2005/NĐ-CP ngày 5-1-2005 của Chính phủ.

[xlvi] Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, phường Phú Lâm còn lại 492,86 ha diện tích tự nhiên và 10.632 nhân khẩu.

[xlvii] Phường Phú Thạnh có 949,29 ha diện tích tự nhiên và 9.858 nhân khẩu.

[xlviii] Phường Phú Đông có 616,85 ha diện tích tự nhiên và 10.541 nhân khẩu.

[xlix]Nghị định số 175/2007/NĐ-CP ngày 3-12-2007 của Chính phủ.

[l]Thị trấn Củng Sơn thành lập vào 11-6-1979 theo Quyết định số 220-CP của Hội đồng Chính phủ. Đến ngày 28-4-1999, Chính phủ ra Nghị định số 31/1999/NĐ-CP tách 1.036 ha diện tích tự nhiên và 828 nhân khẩu của thôn Trung Hoà thuộc thị trấn Củng Sơn và hợp cùng một phần xã Sơn Phước để thành lập xã Suối Bạc thuộc huyện Sơn Hòa. Thị trấn Củng Sơn lúc này còn 2.221 ha diện tích tự nhiên và 8.524 nhân khẩu.

[li]Nghị định số 175/2007/NĐ-CP ngày 3-12-2007 của Chính phủ.

[lii] Nghị định số 62/2005/NĐ-CP, ngày 16-5-2005 của Chính phủ.

[liii] Nghị định 42 NĐ-CP, ngày 27-8-2009 của Chính phủ.