hoc vi tinh

thiết kế website tại đà nẵng

thiết kế website tại đà nẵng

Công tác xã hội với cộng đồng ngư dân vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
Developed by JoomVision.com

Liên kết website

Liên kết-Quảng cáo

Trung tâm Thông Tin Thư viện

Khoa Môi trường

Bộ môn Bản đồ, viễn thám và GIS

Công tác xã hội với cộng đồng ngư dân vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

  1. Mở đầu

Ngư dân đầm phá Tam GiangCầu Hai cộng đồng dân nghèo, thiệt thòi đời sống bấp bênh, sinh kế phụ thuộc hoàn toàn vào đầm phá: khai thác thủy sản, chế biến thủy sản dich vụ thủy  sản… Ngày nay nguồn lợi ngày càng giảm, thời tiết thất thường môi trường đầm phá ngày càng ô nhiễm, dân số vùng đầm phá tăng nhanh… do đó đã gây ra không ít khó khăn gia tăng sự bấp bênh về sinh kế đối với ngu dân quanh vùng đầm phá.

Trong nhiều năm qua, đã nhiều chương trình, dự án tác động vào vùng đầm phá nàynhưng chỉ mới dừng lạiđầu sở hạ tầng, hỗ trợ kỹ thuật, chứ chưa thực sự quan tâm giải quyết các vấn đề về sinh kế-xã hội. Để góp phần khắc phục những hạn chế trên, bài viết này bước đầu chia sẻ, giới thiệu công tác hội với cộng đồng ngư dân vùng đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, thông qua quá trình hoạt động thực tiễn của bản thân đồng nghiệp trong chương trình phát triển nông thôn, với dự án “Hỗ trợ sinh kế cho các nhóm cư dân nghèo, thiệt thòi ở vùng đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” trong khuôn khổ Dự án SFIC - 02 thuộc Trung tâm Khoa học hội Nhân văn, Đại học Khoa học Huế.

Cộng đồng ngư dân đầm phá Tam Giang-Cầu Hai (2010)

2. Tổng quan

            2.1. Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

Vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (tên gọi tắt của một hệ thống đầm phá liên hoàn bao gồm: phá Tam Giang, đầm Sam, đầm Chuồn, đầm Thuỷ Tú, đầm Hà Trung, đầm Cầu Hai) là hệ thống đầm phá thuộc cỡ lớn trên thế giới. Nó được phân bố trên chiều dài 68 km, rộng gần 22.000 ha; nơi rộng nhất là 14 km và nơi hẹp nhất là 0,6 km, có tổng diện tích mặt nước là 216 km², chiếm 43% diện tích lãnh thổ Thừa Thiên Huế, chiếm gần một nửa tổng diện tích đầm phá ven bờ Việt Nam (480,5 km²).[7]

Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai hợp thành từ các bộ phận[4,8]:

- Phá Tam Giang giới hạn phía bắc là cửa sông Ô Lâu, phía nam là cửa sông Hương thông với biển qua cửa Thuận An. Từ Ô Lâu tới Thuận An dài 26 km, chiều rộng phá từ 2 - 3,5km. Thuộc địa phận 12 xã của ba huyện Quảng Ðiền, Phong Ðiền và Hương Trà. Phá Tam Giang có diện tích khoảng 5.200ha.

- Ðầm Sam (phía nam cửa sông Hương) có diện tích khoảng 1.620 ha, liên quan đến tám xã của huyện Phú Vang.

- Ðầm Thủy Tú - Hà Trung, gọi tắt là đầm Thủy Tú có diện tích khoảng 3.600 ha, 24 km, bao gồm bốn xã của Phú Vang và Phú Lộc.

- Phía Nam đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có đầm Lăng Cô (còn gọi là đầm Lập An hoặc vụng An Cư), đầm Lăng Cô có diện tích 1.600ha.

Ðầm phá Tam Giang - Cầu Hai được hình thành và tồn tại hơn 2000 năm. Ðây là loại hình thuỷ vực rất độc đáo, được coi như là một vùng biển - một lagoon ven biển nhiệt đới. Nhờ lợi thế về nguồn lợi thuỷ sản, đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là nơi sinh sống của hơn 350.000 người dân, chiếm hơn 30% dân số tỉnh Thừa Thiên Huế. Với những đặc điểm này, đầm phá có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của ngư dân quanh vùng.[kết quả điều tra]

            2.2. Thực trạng đời sống sinh kế của ngư dân vùng đầm phá

Dân cư thuỷ diện và định cư ở nghèo ở đầm phá nói chung và ngư dân các xã Vinh Hà, Vinh Phú và Phú Diên, huyện Phú Vang nói riêng sống và sinh kế phụ thuộc vào nguồn lợi từ đầm phá bằng nhiều sinh kế khác, họ đang đối mặt những thách thức về sinh kế. Do sức ép của sự gia tăng dân số, gia tăng các ngư cụ đánh bắt hiện đại, các ngư cụ huỷ diệt như: nghề lưới có mắc lưới dày, nghề lừ Trung Quốc, nghề kích điện, rà xiết điện…. diện tích nuôi trồng thuỷ sản (đặc biệt là diện tích nuôi tôm) được mở rộng trong những năm qua nên thành phần tham gia vào nuôi trồng trong xã hội tăng lên, sự rủi ro trong khai thác ngày càng tăng (năm 2006 hơn 50% người dân trong xã Vinh Hà bị thất thu trong nuôi trồng thuỷ sản…). Mặc khác, môi trường đầm phá ngày càng bị ô nhiễm, nguồn lợi ngày càng cạn kiệt, do ảnh hưởng nhiều từ nhiều yếu tố khác nhau như: Nuôi trồng thuỷ sản chưa đúng yêu cầu kỹ thuật, thời tiết khắc nghiệt, thất thường, việc khai thác quá mức, ngư dân địa phương của các vùng chưa có kế hoạch, biện pháp bảo vệ các nguồn lợi (tài nguyên) của đầm phá…đã gây ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế-xã hội vùng đầm phá.

Vinh Hà, Vinh Phú và Phú Diên là ba trong những xã nghèo nhất vùng đầm phá của huyện Phú Vang, là các xã nghèo theo chương trình 135 của Chính phủ.

Vinh Hà là một xã bán đảo ở vị trí phía nam hệ đầm phá, thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Toàn xã có 1.010 hộ với 9.623 nhân khẩu (số liệu 2004). Cư dân ở đây chủ yếu phân thành hai nhóm chính: Nhóm cư dân trên làng (theo cách nói của người dân địa phương) là quần thể người cư trú lâu đời trên đất liền, sinh kế chủ yếu dựa vào nông nghiệp; nhóm cư dân thuỷ diện-định cư là quần thể cư dân sống dựa vào các nghề khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, sống lênh đênh trên mặt nước đầm phá, đã và đang từng bước lên bờ định cư.

Vinh Phú là xã có vị trí địa lí không thuận lợi, cách xa thành phố và trung tâm huyện; các nguồn tài nguyên không được phong phú (chủ yếu là tài nguyên đầm phá), đất đai khô cằn phần lớn là đất cát ít màu mỡ bị nhiễm mặn. Bên cạnh đó, đời sống kinh tế đang trong tình trạng bấp bênh, nhiều con em của địa phương phải đi làm ăn xa, một số nguồn tài chưa được khai thác hay không thể khai thác (tài nguyên đất cát, tài nguyên rừng…).

Xã Phú Diên nằm ven đầm phá Tam Giang thuộc khu vực đầm Sam-Chuồn, nằm phía đông nam và cách thành phố Huế 25km về phía đông. Xã có địa hình phức tạp đi từ đầm phá lên vùng đất cát cao và xuống lại biển sâu. Toàn xã có 7 thôn, trong đó có một thôn (thôn Thanh Mỹ với 180 hộ) chủ yếu làm ngư nghiệp, sống và sinh kế phụ thuộc hoàn toàn vào đầm phá.

3. Công tác xã hội với ngư dân vùng đầm phá

Việc xoá đói giảm nghèo cho dân cư các vùng sâu, vùng xa…là điều quan trọng và rất cần thiết. Trong những năm qua, đã có rất nhiều chương trình, chính sách và dự án hỗ trợ cho các vùng dân cư nghèo. Các chương trình của Chính phủ hay các tổ chức phi chính phủ đã, đang và tiếp tục mang lại những kết quả tốt làm thay đổi đời sống của dân cư vùng hưởng lợi (bên cạnh những mặt trái của nó). Việc tiếp cận, triển khai các chương trình hoạt động của mỗi chương trình có những khác biệt nhau, cả về chất và lượng. Và làm thế nào để những chương trình, dự án mang lại những kết quả tốt cho các đối tượng hưởng lợi, đó là điều quan tâm của người thực hiện chương trình, dự án. Dưới đây, tôi xin chia sẻ kinh nghiệm của bản thân qua quá trình thực hiện một chương trình xoá đói giảm nghèo ở vùng đầm phá Tam Giang-Cầu Hai thuộc địa phận 3 xã Vinh Hà, Vinh Phú và Phú Diên, huyện Phú Vang. 

            3.1. Quy trình công tác xã hội với ngư dân đầm phá

Quy trình công tác xã hội với ngư dân vùng đầm phá là một vấn đề được sự quan tâm rất lớn của nhiều cá nhân, tổ chức, cơ quan đoàn thể. Hệ thống đầm phá Tam Giang-Cầu Hai có vai trò rất quan trọng đối với đời sống kinh tế-xã hội của các ngư dân quanh vùng, do vậy có rất nhiều chương trình, dự án đã đang và tiếp tục triển ở nơi đây, đặc biệt là công tác xã hội. Các chương trình thực hiện công tác xã hội ở vùng đầm phá có những đặc điểm giống và khác nhau. Giống nhau là các cá nhân, tổ chức có thể thực hiện chương trình, dự án nào đó cùng chung mục đích là phát triển và nâng cao đời sống kinh tế-xã hội cho các ngư dân và đối tượng của các chương trình đó là các ngư dân vùng đầm phá. Khác nhau là tính chất của chương trình, dự án như nghiên cứu hay hỗ trợ; về phương pháp hay quy trình thực hiện…trong đó điểm khác nhau quan trọng nhất là phương pháp thực hiện hay quy trình thực hiện, vì nó phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện cụ thể của từng địa phương (điều kiện tự nhiên, văn hoá-xã hội, phong tục, tập quán và tính chất của chương trình, dự án…). Để thực hiện các chương trình, bản thân người thực hiện có những phương pháp, có những bài học kinh nghiệm khác nhau. Các phương pháp thực hiện có thể giống nhau hay khác nhau, song kinh nghiệm thì mỗi cá nhân và tổ chức khác nhau qua các bài học rút ra từ thực tiễn, quá trình triển khai, làm việc với cộng đồng và các cơ quan liên quan. Các kinh nghiệm được rút ra trong quá trình thực hiện như: các bài học từ tổ chức, từ sự phối với đối tác và đặc biệt các bài học kinh nghiệm quan trọng nhất được rút ra từ thực tiễn tại cộng đồng. Dưới đây là một quy trình đã được thực hiện và rút kinh nghiệm từ dự án “Hỗ trợ sinh kế cho các nhóm cư dân nghèo, thiệt thòi ở vùng đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Khoa học Huế thực hiện. 

            3.1.1. Đánh giá nhu cầu ngư dân có sự tham gia

Đây là quá trình thực hiện đầu tiên của hoạt động dự án. Thông qua bước này, ta có thể nắm bắt được những vấn đề bức xúc, khó khăn cần giải quyết của các ngư dân địa phương bao gồm những vấn đề về kinh tế-xã hội; văn hoá bao gồm cả: lễ hội, phong tục tập quán; việc sử dụng và quản lý các nguồn tài nguyên, các nguồn lực vật chất của cộng đồng trong quá trình phát triển của mình... Đây cũng là giai đoạn làm tiền đề cho bước tiếp theo là lập kế hoạch hoạt động của dự án hỗ trợ.

Qúa trình đánh giá nhu cầu được thực hiện trực tiếp bởi cán bộ chương trình, dự án với chính quyền và người dân địa phương. Trong đó, cán bộ chương trình, dự án chỉ đóng vai trò thúc đẩy, hỗ trợ còn chính quyền và người dân địa phương là thành phần chính trong quá trình này. Trước khi thực hiện bước này cần phải thảo luận và hướng dẫn cho cán bộ địa phương nắm vững mục đích, chương trình và phương pháp thực hiện, mặt khác cán bộ địa phương là cầu nối quan trọng  cho cán bộ dự án và người dân địa phương.

Kết quả của quá trình đánh giá nhu cầu là phải tìm ra được các vấn đề khó khăn, bức xúc còn tồn tại và đưa ra những giải pháp theo người dân địa phương cho những vấn đề trên. Đồng thời phải để người dân địa phương chọn lựa những vấn đề bức xúc nhất và ưu tiên nhất để giải quyết trước.

   3.1.2. Lập kế hoạch hoạt động có sự tham gia

Đây là giai đoạn quan trọng nhất của cả quá trình hoạt động của một chương trình, dự án tại cộng đồng. Thông qua quá trình này sẽ xây dựng nên một chương trình hoạt động cụ thể cho từng giai đoạn, từng thời kỳ và đáp ứng với nhu cầu, mong muốn của cộng đồng hay theo yêu cầu, mục tiêu của chương trình, dự án đề ra. Qúa trình này được thực với sự tham gia của nhiều thành phần, trong đó quan trọng nhất là cộng đồng ngư dân hưởng lợi, là thành phần đề xuất và đưa ra các hoạt động cụ thể, các thành phần khác (chính quyền, tổ chức phi chính phủ, các cơ quan đoàn thể…) đóng vai trò hỗ trợ và thúc đẩy cho người hưởng lợi vạch ra các kế hoạch và hoạt động.

Qúa trình xây dựng kế hoạt hoạt động dựa trên các phương pháp tiếp cận khác nhau. Các phương pháp được sử dụng như: Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA), Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA), Phương pháp phân tích sinh kế (SLA) và một số phương pháp khác.

Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA)là công cụ của việc nghiên cứu hệ sinh thái nhân văn. Phương pháp nảy sinh từ tác động qua lại các quá trình kinh tế xã hội và sinh thái. Do đó sự nghiên cứu và phát triển có hiệu quả dựa vào kỹ năng phối hợp và nắm vững các ngành khoa học tự nhiên, xã hội. Đây là phương pháp mới trong việc điều hành công tác có tính định hướng hoạt động ở các nước phát triển. Cho tới nay, phương pháp này sử dụng rộng rãi để góp phần vào công việc phát triển nông nghiệp.

Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững (SLA)là phương pháp chủ đạo nhằm tập trung quan tâm vào các nhóm nghèo và hướng đến phát triển bền vững của người nghèo. Sinh kế bền vững sẽ đặt yếu tố con người làm vị trí trung tâm của quá trình phát triển và các dự án xoá đói giảm nghèo. Hơn nữa, đói nghèo là một vấn đề phức tạp, nó là hậu quả của nhiều nguyên nhân khác nhau. Vì vậy, các cách tiếp cận cổ điển theo ngành, theo vùng không thể giải quyết được. Nhìn bằng phương pháp sinh kế giúp cho chúng ta cái nhìn tổng thể toàn diện về đói nghèo và các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo. Thông qua phương pháp này, chính người dân sẽ là người hiểu rõ và xác định các vấn đề liên quan đến sự nghèo đói cũng như các cơ hội mở ra của họ.

Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA)là một bộ công cụ tối ưu cho việc thu thập và phân tích thông tin. Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững luôn đi kèm với bộ công cụ PRA này. Vì PRA cũng đặt con người vào vị trí trung tâm, tạo cơ hội cho người dân đóng vai trò tích cực hơn trong các nỗ lực phát triển. Nó tập trung quyền tối đa cho người dân phản ánh và suy ngẫm về vấn đề nghèo đói của họ và để tạo cho người dân đưa ra quyết định, các hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng của họ. Các công cụ thường được sử dụng là: Biểu đồ lịch sử; Bản đồ tài nguyên; Sơ đồ đi lại; Lịch thời vụ; Biểu đồ Venn; Bảng xếp hạng; Xây dựng bản đồ quy hoạch; Bảng phân tích giới; Phỏng vấn; Thu thập, tham khảo các tài liệu, số liệu thứ cấp; Quan sát và rút kinh nghiệm từ những hoạt động can thiệp nhỏ…

            3.1.3. Hỗ trợ ngư dân triển khai các hoạt động

Khi nhu cầu và mong muốn của ngư dân đã được xác định, kế hoạch hoạt động đã được xây dựng và bước tiếp theo là thực hiện các hoạt động của chương trình, dự án đã vạch ra. Song để thực hiện tốt cho quá trình này cần phải qua các bước sau:

Xây dựng tổ chức:

Đây là bước đầu tiên không thể thiếu cho quá trình triển khai, hoạt động của một chương trình, dự án. Cán bộ chương trình, dự án cùng tìm hiểu, thảo luận và vận động ngư dân thành lập các tổ chức. Tổ chức có thể là nhóm nòng cốt (là những thành viên trong cộng đồng có uy tín, ảnh hưởng lớn, nhiệt tình, năng động, làm việc vì lợi ích chung), nhóm này có thể từ 5-7 người; hay tổ chức hội (có nhiều thành viên trong cộng đồng cùng nhau tập hợp lại xây dựng nên tổ chức cộng đồng, gọi là hội, trong hội thành lập ban chấp hành để điều hành và quản lý), hội có số lượng thành viên lớn khoảng 30 – 50 người và thường hội có một đặc điểm, tính chất chung nào đó như: đại diện cho nam giới có hội nông dân; đại diện cho nữ giới có hội phụ nữ, hay đại diện cho tính chất nghề nghiệp của ngư dân có hội nghề cá…

Trong tổ chức (nhóm hay hội) đều phải có người quản lý hay ban quản lý chung, nhóm trưởng hay ban chấp hành hội. Nhóm trưởng thường là người đứng đầu trong một nhóm, một nhóm chỉ có một nhóm trưởng. Ban chấp hành hội là nhóm người đứng đầu tổ chức hội, trong đó được phân ra các chức danh khác nhau: chủ tịch, phó chủ tịch, thư ký và uỷ viên, ngoài ra các thành viên trong hội có thể thành lập thành các nhóm nhóm, tổ: nhóm cùng sở thích, nhóm nghề nghiệp. Nhóm trưởng hay ban chấp hành hội điều do các thành viên trong nhóm hay hội bầu nên (theo tính dân chủ), với chức năng xây dựng, triển khai các hoạt động và quản lý tổ chức, quản lý tài chính. Thành phần nhóm trưởng hay ban chấp hành hội sẽ được thay đổi theo nhiệm kỳ, hay bất thường (khi không có năng lực). Qúa trình thay đổi do thành viên nhóm hay hội bầu cử một cách công khai và công bằng, thông qua các cuộc họp (họp nhóm, đại hội, hội nghị...). Kết quả đó là sự thống nhất ý kiến cao của các thành viên trong nhóm, hội.

Nâng cao năng lực:

Nâng cao năng lực cho ngư dân và chính quyền địa phương, là bước rất quan trọng, nhằm cung cấp thông tin, thu thập thập thông tin (kiến thức và kinh nghiệm của người dân địa phương), chuyển giao công nghệ khoa học-kỹ thuật (các trang thiết bị, các mô hình phát triển) và chia sẻ kinh nghiệm... Để thực hiện bước này chúng ta cần có nhiều phương pháp khác nhau, nhưng điều quan trọng nhất là chúng ta phải biết phối hợp các phương pháp đó như thế nào cho phù hợp với hoạt động, điều kiện cũng như khả năng thực hiện của địa phương. Các phương pháp thường được sử dụng cho quá trình này như: phỏng vấn cá nhân, phỏng vấn bán cấu trúc (phỏng vấn nhóm), thảo luận nhóm, tập huấn, chuyển giao công nghệ và chia sẻ kinh nghiệm.

Qúa trình nâng cao năng lực sẽ tạo cung cấp cho ngư dân hưởng lợi có những kiến thức, các phương pháp thực hiện, kỹ năng làm việc và các điều kiện cần thiết để thực hiện tốt công việc của mình. Thông qua đó những nhóm ngư dân nòng cốt, những tổ chức cộng đồng (Chi hội nghề cá cơ sở, nhóm sở thích nuôi trồng, nhóm nghề nghiệp…) được hình thành, có đủ năng lực lãnh đạo, thực hiện và quản lý các hoạt động của kế hoạch, chương trình hay dự án. Ngoài ra, việc nâng cao năng lực còn tăng sự hiểu biết, suy nghĩ và tầm nhìn, giúp họ có thể vạch ra được những kế hoạch, những hoạt động và nhất là chiến lược cho sự phát triển.

Qúa trình nâng cao năng lực cho cán bộ địa phương hay các tổ chức cộng đồng đòi hỏi phải lâu dài và thường xuyên. Do nhận thức của người dân tại các địa phương chưa cao và thường nghiêng về lợi ích cá nhân, chưa hiểu được tầm ảnh hưởng lâu dài của các chương trình, dự án; nên quá trình nâng cao năng lực, chia sẻ kinh nghiệm cho cán bộ địa phương và cộng đồng là điều cần thiết, quan trọng và diễn ra thường xuyên, với các hình thức như: trò chuyện, trao đổi-thảo luận, tập huấn hay tham quan học tập…

Hỗ trợ tài chính:

Hỗ trợ tài chính là bước quan trọng nhất của một chương trình, dự án. Nguồn tài chính sẽ tạo thuận lợi cho việc thực hiện, triển khai chương trình hoạt động, tạo điều kiện cho nhu cầu nâng cao năng lực cho ngư dân (thông qua việc đi học, tập huấn, đào tạo hay tham quan mô hình…). Các hoạt động tạo sinh kế mới, thay đổi ngành nghề, hỗ trợ mô hình phát triển bền vững, đào tạo tại các cơ sở, tập huấn, tham quan học tập... là điều rất cần đến nguồn tài chính, nhất là hỗ trợ sinh kế đòi hỏi phải có nguồn kinh phí hỗ trợ (có thể ít hoặc nhiều tuỳ thuộc vào chương trình, dự án). Tuy nhiên, để nguồn vốn hỗ trợ có hiệu quả và không gây tác động tích cực đối với người dân thì cần phải có mục đích và phương pháp hỗ trợ. Dưới đây, xin chia sẻ kinh nghiệm trong việc hỗ trợ vốn cho nhóm ngư dân nghèo vùng đầm phá hiệu quả:

Để hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ cần có những tiêu chí sau:

+ Nguồn vốn phải đảm bảo đúng mục đích.

+ Nguồn vốn cần phải có sự đóng góp, tiết kiệm hay hội phí của cộng đồng.

+ Nguồn vốn phải được xoay vòng cho tất cảc các thành viên trong nhóm, trong tổ chức, hay trong các chi hội…và không được tồn đọng ở các thành viên ban chấp hành, các nhóm trưởng, thư ký…tránh sự thất thoát hay chi tiêu ngoài mục đích chung.

+ Nguồn vốn phải được công khai. Việc cho vay, thu hồi, hay sử dụng vào một mục đích chung nào đó cần phải có sổ sách rõ ràng và phải báo cáo công khai trong các kỳ họp chung.

+ Không nên hỗ trợ vốn cho một cá nhân đơn lẻ, mà hỗ trợ cho nhóm, hội chung nào đó đã được cộng đồng và chương trình, dự án xây dựng nên và công nhận.  

            3.2. Các mô hình sinh kế và chuyển đổi

Nhằm tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm và giảm thiểu thành phần tham gia vào các nghề huỷ diệt thì cần phải phải có sự chuyển đổi hay xây dựng các mô hình sinh kế mới cho các ngư dân nghèo vùng đầm phá. Các mô hình này sẽ giải quyết được về kinh tế cho các hộ gia đình, giải quyết được tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm hay làm nghề huỷ diệt. Đồng thời chúng sẽ đảm bảo tính ổn định về kinh kế, bền vững về môi trường và sử dụng lâu dài nguồn tài nguyên cho các ngư dân nghèo. Thông qua chương trình dự án trên, một số mô hình sinh kế mới được chuyển đổi và triển khai thực hiện tôi xin được chia sẻ:

            3.2.1. Mô hình nuôi sinh thái

Nuôi sinh thái (nuôi xen canh kết hợp) là mô hình hỗ trợ cho nhóm nuôi trồng thuỷ sản đang trong tình trạng thua lỗ, nợ nần. Mô hình là sự kết hợp nuôi các loài thuỷ sản khác nhau trong cùng một khu vực để tăng tính ổn định về kinh tế, giảm thiểu được ô nhiễm môi trường ao nuôi, môi trường đầm phá và giảm áp lực cho người tham gia nuôi khi tiến hành nuôi. Mô hình nuôi sinh thái hướng đến sự phát triển bền vững, vừa đảm bảo về kinh tế và vừa đảm bảo môi trường các yếu tố ảnh hưởng bất lợi đến người nuôi trồng thuỷ sản. Dự án đã thực hiện triển khai hai mô hình tại cộng đồng ngư nghiệp xã Vinh Phú, huyện Phú Vang:

1.      Mô hình nuôi tôm sú kết hợp với cá kình và rong câu chỉ vàng

2.      Mô hình nuôi  tôm sú kết hợp với cá rô phi

Trong việc thực hiện triển khai hai mô hình này, người thực hiện phải trải qua các giai đoạn khác nhau: đi từ giai đoạn tìm hiểu, đánh giá nhu cầu của ngư dân đến việc vận động, phổ biến mô hình, tập huấn kỹ thuật, hỗ trợ tài chính, triển khai thực hiện và nghiệm thu mô hình. Cho dù ở giai đoạn nào đi nữa, người tham gia chính là người nuôi trồng thuỷ sản ở địa phương, họ đóng vai trò rất lớn trong quá trình thực hiện mô hình. Họ vừa là đối tượng hưởng lợi của của mô hình, vừa là đối tượng thực hiện chính cho các mô hình. Song để cho đối tượng này thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình thì cán bộ hỗ trợ chương trình luôn phải theo sát cung cấp thông tin, thảo luận, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm. Cần phân rõ vai trò và trách nhiệm của mỗi cá nhân khi tham gia vào mô hình, đó là quá trình thảo luận và bàn bạc kỹ lưỡng trước khi tiến hành.

            3.2.2. Mô hình nuôi cá lồng

Ngư dân quanh vùng đầm phá sống và kinh tế chủ yếu dựa vào đầm phá. Việc khai thác quá mức, khai thác không bảo vệ với các phương tiện khai thác huỷ diệt như kích điện, rà điện hay các ngư cụ cải tiến làm giảm kích thước mắc lưới để bắt được nhiều loại thuỷ sản dù lớn hay nhỏ đã, đang và sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Do vậy, việc giáo dục, truyên tuyền và vận động người dân cùng nhau bảo vệ tài nguyên, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản là điều quan trọng và cần thiết trong tình trạng hiện nay.

Mô hình nuôi cá lồng là mô hình nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp, thay đổi cách làm cho các ngư dân làm nghề huỷ diệt, giảm áp lực khai thác xuống đầm phá, đa dạng ngành nghề và tăng thu nhập cho ngư dân đại phương. Việc tìm kiếm, bổ sung và xây dựng các mô hình mới có tính chất bền vững và không ảnh hưởng là điều quan trọng, trong đó mô hình nuôi cá lồng là một trong những mô hình sinh kế nhằm giải quyết các vấn đề trên. Các mô hình nuôi cá lồng như: Nuôi cá vượt, cá điêu hồng, cá trặc, cá dầy, cá rô phi đơn tính, cua, ghẹ…có thể ứng dụng cho các ngư dân quanh đầm phá tăng thu nhập và ít ảnh hưởng môi trường, nhưng điều quan trọng là không nên tập trung nhiều ngư dân vào một mô hình và các mô hình phải thích ứng với điều kiện cụ thể của địa phương.

            3.2.3. Mô hình chuôm

Chuôm là một trong những nghề mang lại kinh tế cho ngư dân và có tác dụng rất lớn trong việc khôi phục, bảo tồn và khu vực sống của nhiều loài thuỷ sản. Nghề chuôm với tính chất hoàn toàn tự nhiên, từ nguyên vật liệu là những cây tre của làng quê, cắm xuống đầm phá ở một khu vực nhất định tạo ra một khu vực sống mới, nơi đảm bảo an toàn cho nhiều loài thuỷ sản trú ngụ. Nghề chuôm có tính chất vừa khai thác, vừa bảo tồn. Song cũng cần có sự giới hạn trong số lượng nghề triển khai và khu vực khai thác tránh sự tranh giành vùng khai thác, cản trở giao thông và các nghề nghề khai thác di động khác.

Qúa trình thực hiện nghề chuôm cần phải quan tâm và chú ý đến tri thức địa phương. Trong đó đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm như: cách làm chuôm, chọn lựa khu vực bố trí, kỷ thuật khai thác… Những kinh nghiệm này được người dân địa phương đúc rút qua hoạt động đánh bắt của họ. Do đó, cần phải tôn trọng ý kiến, kinh nghiệm địa phương trong việc làm nghề Chuôm này.

            3.2.4. Mô hình chăn nuôi

Cũng như mô hình nuôi cá lồng, mô hình chăn nuôi nhằm tạo ngành nghề mới, thay đổi nghề huỷ diệt và tăng thu nhập cho gia đình. Mô hình chăn nuôi gia súc (trâu, bò, heo…) hay gia cầm (chủ yếu gà, vịt) là một trong những nghề tuy không mới nhưng cũng mang lại hiệu quả, đặc biệt đối với ngư dân đây là sinh kế mới và chưa quen thuộc. Do vậy, việc thực hiện mô hình này cho các ngư dân thì điều quan trọng và cần thiết là phải cung cấp đầy đủ thông tin về mô hình, hướng dẫn kỹ về kỹ thuật chăn nuôi, cũng như cách phòng và trị bệnh Phải đảm bảo các yếu tố ảnh hưởng đến cộng đồng xung quanh là: đảm bảo môi trường nuôi, không thả rong các loài nuôi hay không để chúng phá hoại cây trồng và vật nuôi của các hộ khác.

            3.2.5. Các mô hình mới khác

Một số mô hình khác khác như: trồng nấm rơm, nuôi cá trong bể ximăng hay ao đất, trồng các cây lâm nghiệp (dương, liễu, thông…) hay cây công nghiệp (điển hoa vàng, keo lá tràm, bạc hà…). Vừa tạo ra môi trường xanh tươi, vừa chống lại các yếu tố bất lợi của môi trường như chắn cát bay, giữ đất… vừa tạo thu nhập cho ngư dân địa phương.

Nói tóm lại, việc xây dựng và hỗ trợ các mô hình sinh kế cho các cộng đồng đầm phá cần phải thực hiện theo một chương trình, kế hoạch cụ thể và đặt vai trò của cộng đồng làm trung tâm. Trong các mô hình cần phải xem xét kỹ các yếu tố: tính khả thi, điều kiện cần thiết, khả năng thực hiện của địa phương và nhất là tính bền vững, ảnh hưởng của mô hình. Bên cạnh đó, cần phải cung cấp đầy đủ thông tin, tập huấn để người dân thực hiện đúng và đạt hiệu quả tốt. Cần phải có sự giám sát, đánh giá, thảo luận và chia sẻ kinh nghiệm sau mỗi mô hình kết thúc, rút ra bài học kinh nghiệm cho quá trình thực hiện sau.

Cộng đồng ngư dân đầm phá Tam Giang-Cầu Hai (2010) 

4. Những kết quả đạt được và vấn đề đặt ra

Thông qua dự án “Hỗ trợ sinh kế cho các ngư dân nghèo đầm phá Tam Giang thuộc huyện Phú Vang”, chúng tôi đã đạt được một số kết quả, mong muốn được giới thiệu để cùng chia sẻ và học tập.

            4.1. Những kết quả đạt được

Trải qua 2 năm hoạt động của chương trình dự án “Hỗ trợ sinh kế” đã thành lập được 3 hội nghề cá với hơn 170 hộ ngư dân tham gia thuộc 3 xã Vinh Hà, Vinh Phú và Phú Diên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thông qua các chi hội nghề cá này, chúng tôi đã lồng ghép các chương trình hoạt động của địa phương và dự án để cùng triển khai và thu lại những kết quả như sau:

- Tổ chức 3 hội thảo, hơn 10 khoá tập huấn và 4 chuyến tham quan học tập về các chủ đề như: Nuôi trồng thuỷ sản, Nâng cao năng lực và phát triển tổ chức hội, Quản lý tổ chức và quản lý tài chính hội, Bảo vệ môi trường, Ảnh hưởng của hoạt động khai thác bằng nghề huỷ diệt, văn hoá xã hội…

- Hơn 20 hộ ngư nghiệp từ bỏ nghề huỷ diệt và thay đổi nghề mới.

- Có hơn 15 mô hình sinh kế mới được triển khai và thực hiện. Trong đó có 3 mô hình nuôi trồng thuỷ sản bền vững, 7 mô hình nuôi cá lồng, 5 mô hình nuôi heo, 1 mô hình làm chuôm và một số mô hình khác.

- Thành lập được một nhóm nghiên cứu viên địa phương.

- Tiến hành nghiên cứu một đề tài địa phương: nghiên cứu tri thức địa phương về nghề nghiệp hoạt động khai thác và nguồn lợi thuỷ sản đầm phá, tại xã Vinh Phú, huyện Phú Vang.

- Xây dựng được các quỹ ở cộng đồng từ các nguồn kinh phí là hội phí, do hội viên đóng và nguồn vốn hỗ trợ, đã tạo điều kiện cho các ngư dân (là thành viên của hội) phát triển, xây dựng và triển khai các sinh kế bền vững.

- Quy hoạch, sắp xếp các nghề ngư nghiệp theo yêu cầu chung của Sở Thuỷ sản hay các ban ngành liên quan và theo nguyện vọng của ngư dân địa phương.

- Xây dựng và bảo vệ các khu vực bãi đẻ, nơi cá sinh sản và cá con cư ngụ, nhằm bảo tồn và phục hồi nguồn lợi thuỷ sản.

            4.2. Những vấn đề đặt ra

- Do đời sống sinh kế bấp bênh, gặp nhiều khó khăn nên người dân chỉ nghĩ đến kinh tế của mình mà không nghĩ đến những ảnh hưởng lâu dài cho các thế hệ mai sau. Mặt khác, do trình độ nhận thức cũng như ý thức của người dân vẫn còn hạn chế, tính cộng đồng chưa cao, do đó sự tham gia của các ngư dân vào trong các tổ chức vẫn còn hạn chế.

- Do nguồn kinh phí và thời gian tiến hành của dự án có giới hạn, trong khi đó những khó khăn, bức xúc của ngư dân thì nhiều nên không thể đáp ứng được hết những nhu cầu, mong muốn của cộng đồng

- Do những khó khăn hạn chế của cộng đồng để thực hiện đầy đủ các hoạt động cần phải có thời gian lâu dài và thường xuyên cung cấp thông tin, tập huấn và chia sẻ kinh nghiệm nâng cao năng lực cho cán bộ và người dân

- Về phía cán bộ dự án vì những lý do khách quan lẫn chủ quan cũng chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của công việc

5. Kết luận bước đầu và một số kiến nghị

            5.1. Kết luận bước đầu

Công tác xã hội cho các cộng đồng ngư nghiệp đòi hỏi phải có chiến lược, phương pháp và kế hoạch hoạt động cụ thể, trong đó cần phải đặt vai trò của cộng đồng ở vị trí trung tâm. Việc thực hiện công tác xã hội cho cộng đồng ngư nghiệp cần phải có thời gian lâu dài, đi từng giai đoạn, từng bước cụ thể và làm thế nào để cho cộng đồng hiểu rõ được những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, mục đích, chức năng, vai trò và trách nhiệm của mình đối với gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng đặt ra mục đích là phải đạt được thành công trong tất cả kế hoạch, mà có khi phải xem những thất bại chính là bài học, là thành công của mình trong tương lai, để tìm ra những vấn đề còn tồn tại và hướng giải quyết cho tốt hơn khi áp dụng.

Công tác xã hội đối với cộng đồng ngư nghiệp là một vấn đề khó, yêu cầu người giúp đỡ, hỗ trợ và thúc đẩy phải có đủ năng lực. Việc thực hiện đòi hỏi sự kiên nhẫn, không vội vàng, không bệnh thành tích và vì sự phát triển chung của cộng đồng. Phải làm thế nào để khơi dậy năng lực của cộng đồng, truyên tuyền vận động người dân hiểu tầm ảnh hưởng lâu dài của chương trình, dự án. Phải xây dựng được mối quan hệ tốt giữa cán bộ với người dân và chính quyền địa phương và đặt vai trò của người dân địa phương lên hàng đầu. Tính chất bền vững và lâu dài của chương trình, dự án phụ thuộc rất nhiều vào quá trình trên.

            5.2. Một số vấn đề kiến nghị

-   Cần phải có những chuyên đề, đề tài nghiên cứu sâu và rộng hơn về công tác xã hội với cộng đồng ngư dân vùng đầm phá.

-   Cần phải có mục đích, chương trình, kế hoạch hoạt động và chiến lược cụ thể cho chương trình, dự án hỗ trợ cộng đồng, đặc biệt cộng đồng đầm phá.

-   Cần phải xác định rõ vai trò và chức năng của chương trình, dự án không vì bệnh thành tích.

-   Xuất bản sách, sổ tay ghi chép về công tác xã hội của tất cả các thành viên từng thực hiện các chương trình, dự án tại cộng đồng.

-   Cần phải phổ biến, chia sẻ và nhân rộng các mô hình công tác xã hội và tiên tiến tốt cho các tổ chức, cộng đồng thực hiện các chương trình liên quan.  

Trần Anh Thọ  

Tài liệu tham khảo

1.      Chamber, Robert (1994), Nguồn gốc và thực tiễn của PRA “The origins and practice of participatory rural appraisal”, World Development, Vol.22, No.7: 953-969.

2.      Nguyễn Đính, Phan Thị Diệu My (2007), Tổng quan những nghiên cứu về đầm phá Tam Giang - Cầu Hai.

3.      DFID (2000), Khung phân tích sinh kế.

4.      Người viễn xứ (2003), “Thắng cảnh Phá Tam Giang Thừa Thiên Huế”, http://www.nguoivienxu.vietnamnet.vn/thangcanh/2004/02/50828/

5.      Sài Gòn giải phóng (2004), “Vùng đầm phá lớn nhất Đông Nam Á đang kêu cứu”,http://www.nea.gov.vn/thongtinmt/noidung/sg_15_11_04.htm.

6.      Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Huế (2005), Báo cáo kết quả Khung phân tích sinh kế có sự tham gia tại xã Vinh Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

7.      Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Huế (2006), Kinh tế xã hội xã Phú Diên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

8.   UBND xã Vinh Hà (2005), Báo cáo tổng kết Nuôi trồng thuỷ sản năm 2005 và Phương hướng nhiệm vụ năm 2006.