hoc vi tinh

thiết kế website tại đà nẵng

thiết kế website tại đà nẵng

TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HUẾ
Developed by JoomVision.com

Liên kết website

Liên kết-Quảng cáo

Trung tâm Thông Tin Thư viện

Khoa Môi trường

Bộ môn Bản đồ, viễn thám và GIS

  • Giới thiệu về CSSH

Sau khi Đại học Huế ra đời, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Huế được thành lập theo quyết định số 3688/GDĐT ngày 06/10/1995 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục-Đào tạo và được Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường cấp giấy phép hoạt động tại bản đăng ký số 655 ngày 22/6/2000. Giám đốc Trung tâm là ông Đỗ Bang, Phó Giám đốc là bà Lương Thị Cảnh.

  • Tin tức sự kiện

Trong các ngày 8, 9, 10/12/2015, cán bộ Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Huế (CSSH) đã tham dự khóa hội thảo tập huấn “Kĩ năng tổ chức sự kiện và các vật liệu truyền thông về VPA/FLEGT” do Quỹ Quốc Tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) – Việt Nam phối hợp với Trung tâm Phát triển Nông thôn miền Trung (CRD) tổ chức tại thành phố Đà Nẵng.

  • Nghiên cứu

ĐỜI SỐNG CỦA CƯ DÂN VẠN ĐÒ Ở HUẾ TẠI CÁC

KHU TÁI ĐỊNH CƯ TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

                                                                                                                         Nguyễn Quang Trung Tiến

 

1. Vài nét về lịch sử hình thành các vạn đò ở Huế

Huế là đô thị có mạng lưới sông ngòi hết sức đặc biệt, bao gồm sông tự nhiên và sông đào được kết nối với nhau, với 3 con sông đào và sông Hương bao bọc tứ phía ôm lấy trung tâm Kinh thành Huế, rồi hòa quyện cùng các con sông nhỏ ở quanh khu vực Huế là sông Bạch Yến, sông Lợi Nông,[1]sông Bình Lục, sông Bồ và thông với hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai trước khi chảy ra biển.

Trong quá trình hình thành cộng đồng dân cư tại Huế, các vạn đò/làng chài lênh đênh trên những dòng sông chảy quanh Huế là một tập hợp dân cư có nguồn gốc xuất thân, thành phần xã hội và thời điểm nhập cư khác nhau, hợp thành một cộng đồng có nếp sống đặc trưng của cư dân sông nước vùng đô thị, tạo nên những nét khác biệt trong sinh hoạt kinh tế, văn hóa-xã hội.  

Quá trình tụ cư lập nghiệp của nhiều nhóm cư dân ở Huế đã diễn ra từ đầu thế kỷ XIV, và đến giữa thế kỷ XVI, sau hàng loạt các cuộc di dân từ phía bắc vào hoặc được bổ sung tại chỗ, ở lưu vực các dòng sông quanh Huế đã có sự cư trú khá đông đảo cả trên bộ lẫn sông nước. Thành phần dân cư này đa phần có nguồn gốc từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, như Dương Văn An trong Ô châu cận lục viết năm 1553 mô tả là ”tiếng nói hơi giống miền Hoan-Ái”. Họ bao gồm dân chài lưới phía bắc di cư vào theo đường biển và cả đường bộ; là cư dân trên đất liền do nghèo đói xuống nước làm ăn; là lính mãn hạn hay tù phạm hết hạn lưu đày tìm kế mưu sinh trên sông nước.[2]

Do cuộc sống rày đây mai đó, thường xuyên ”theo đuôi con cá”, ít có chữ nghĩa, lại lên bộ xuống nước bất chừng nên cư dân sông nước ít nhớ rõ nơi chôn nhau cắt rốn của tổ tiên xa xưa của mình, khó giữ được sự ổn định lâu bền của cộng đồng. Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, khi Huế trở thành kinh đô, nhà nước phong kiến đã biên chế cư dân thủy diện thành từng “vạn” (làng chài trên sông) để dễ quản lý, và các vạn đò ở khu vực Huế được thành lập.[3]

Tổ chức hành chính của các vạn đò ở Huế xuất hiện vào giữa thế kỷ XIX, dưới triều vua Tự Đức (1848-1883), đó là tổng Võng Nhi thuộc huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên được thành lập trên cơ sở 13 làng cư dân thủy diện, không có địa phận trên đất liền.[4] Năm 1886, dưới triều vua Đồng Khánh, tổng Võng Nhi đã tăng lên 16 thôn, ấp, giáp,[5] bao gồm các vạn đò trên đầm phá và những con sông quanh Huế.

Thời Pháp thuộc, các vạn đò vẫn nằm trong tổng Võng Nhi thuộc huyện Hương Thủy. Nhưng đến đầu năm 1946, dưới sự quản lý của chính quyền cách mạng, thành phố Huế được mở rộng hơn trước, chia làm 8 khu phố trực thuộc, trong đó khu phố 8 gồm các vạn đò trên sông Hương và các sông lân cận, trải từ cầu Dã Viên về cầu Bao Vinh, đến chợ Vĩ Dạ và bao quanh cồn Hến.[6]

Sau khi người Pháp quay trở lại chiếm đóng Huế, ngày 13/11/1951, Phủ Thủ hiến Trung Việt ra nghị định thành lập tại Huế hai Quận cảnh sát ở tả ngạn và hữu ngạn sông Hương, trong đó Quận cảnh sát Tả ngạn gồm 17 phường và 10 vạn đò là An Hội, Tân Bửu, Lợi Thành, Tân Lập, Trường Độ, Phủ Cam, Phú Tiền, Ngư Hộ, Lanh Canh, Lợi Nông.[7]

Sau Hiệp định Genève (21/7/1954), thị xã Huế là đơn vị hành chính ngang cấp với tỉnh Thừa Thiên, được tổ chức lại thành 22 phường và 11 vạn đò[8]gồm: Phú Tiền, Tân Lập, Lanh Canh, Trường Độ, Trọng Đức, An Hội, Tân Bửu, Ngư Hộ, Lợi Thành, Phủ Cam, Lợi Nông.[9]

Ngày 04/5/1968, Tổng trưởng Bộ Nội vụ Sài Gòn ra nghị định số 319-BNV/NC/19 chuyển đơn vị hành chính cấp cơ sở ở thị xã Huế từ phường-vạn thành 10 khu phố, vì vậy 11 vạn đò ở Huế đổi thành 11 khóm, lập thành khu phố Phú An (từ 22/8/1972 đổi khu phố thành phường) thuộc Quận Nhì.[10]Dân số vạn đò phường Phú An sinh sống trong gần 2.000 chiếc đò vào năm 1972 là 18.921 ng­ười, chiếm 9,58% trong tổng số dân toàn thị xã Huế là 197.530 ng­ười.[11]

Location Map of Hue’s sampans in the period 1970-2010

Bản đồ vị trí các vạn đò ở Huế giai đoạn 1970-2010[12]

1.Tân Lập, 2.Phú Tiền, 3.Lợi Nông, 4.Trường Độ, 5.Lợi Thành, 6.An Hội,

7.Phủ Cam, 8.Tân Bửu, 9.Lanh Canh, 10.Trọng Đức, 11.Ngư Hộ

Sau ngày Việt Nam thống nhất, đến 11/3/1979, phường Phú An bị giải thể, 11 vạn đò của cư dân thủy diện nhập vào phường Phú Cát ở trên đất liền của thành phố Huế.[13]Thực hiện chủ trương di dân xây dựng vùng kinh tế mới, một số dân vạn đò đ­ược chuyển lên phía thượng nguồn sông Hương, sinh sống ở Lư­ơng Miêu, Bình Điền thuộc huyện Hương Trà. Trong những năm 1983-1995, chính sách định c­ư của Nhà nước cũng đã giúp một số l­ượng lớn dân vạn đò ở Huế rời thuyền lên bộ, sinh sống ở các khu định cư tại các phường Tr­ường An, Ph­ước Vĩnh, Kim Long, Phú Hậu thuộc thành phố Huế. Đến năm 1995, c­ư dân vạn đò ở Huế còn 887 hộ với 6.278 ngư­ời sống trên mặt nước.[14]

Vạn đò ở Huế là một cộng đồng dân cư hành nghề chài lưới hoặc khai thác cát sạn trên sông, có bến đò chính của vạn và có các sinh hoạt gắn liền sông n­ước. Mỗi vạn có khoảng 25-30 đò, hay còn gọi là ”nôốc” (thuyền), tương đương với một thôn, xóm trên bộ. Tên gọi các vạn đò hoặc gắn liền với nghề nghiệp chính của vạn (như vạn Lanh Canh xuất phát từ việc ngư dân gõ vào các chiếc troòng đánh cá lúc hành nghề để lùa cá vào lưới, tạo nên tiếng lanh canh), hoặc lấy tên địa danh xuất phát của vạn (như Phủ Cam, Lợi Nông), hoặc lấy tên gốc của vạn cũ (như vạn Trọng Đức lấy tên gốc vạn Trọng Đức ở Ngã Ba Sòng ngoài Quảng Trị).

Cộng đồng cư dân vạn đò ở Huế có một quá trình hình thành lâu dài và hết sức phức tạp. Sự tồn tại của cộng đồng này là hệ quả từ diễn trình di dân và những thay đổi liên tục của bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ở Huế suốt nhiều thế kỷ. Vì thế, không gian phân bố của cư dân vạn đò cũng có sự biến đổi không ngừng. Tùy theo đặc điểm nghề nghiệp, tôn giáo tín ngưỡng, quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân gia đình của từng vạn, mà đò của các thành viên trong vạn có khi quây quần cắm sào đậu cạnh nhau, có khi ở cách nhau chừng vài cây số. Ranh giới giữa các vạn cũng không có sự phân biệt rõ ràng như trên đất liền.

Chỉ từ sau năm 1979, khi Nhà nước đặt cư dân vạn đò dưới sự quản lý hành chính của cấp phường xã trên đất liền, thì giới hạn giữa các vạn đò mới theo ranh giới hành chính cụ thể trên bộ. Không gian phân bố các vạn đò ở Huế trong khoảng thời gian 1970-2010 về cơ bản như sau (xếp theo thứ tự từ thượng nguồn xuống hạ nguồn):[15]

TT

Tên vạn

Địa điểm quần tụ chính của vạn

Nghề nghiệp chính

01

Tân Lập

Trên sông Hương, gần cầu Dã Viên; và trên sông Kẻ Vạn

Khai thác cát sạn làm vật liệu xây dựng; đánh bắt cá; buôn bán, làm thuê

02

Phú Tiền

Trên sông Hương, dưới vạn Tân Lập

Đánh bắt cá; khai thác cát sạn; buôn bán, làm thuê

03

Lợi Nông

Trên sông Hương, dưới vạn Phú Tiền

Đánh bắt cá; khai thác cát sạn

04

Trường Độ

Trên sông Hương, giữa vạn Phú Tiền và cầu Phú Xuân (cầu Mới)

Cho thuê đò; đánh bắt cá

05

Lợi Thành

Trên sông Hương, cạnh chợ Đông Ba

Đánh bắt cá; buôn bán, bốc vác thuê

06

An Hội

Trên sông Đông Ba, từ cầu Gia Hội đến gần cầu Đông Ba

Cho thuê đò; vận chuyển tre, nứa, gỗ; buôn bán, làm thuê

07

Phủ Cam

Trên sông Đông Ba, dưới vạn An Hội, gần cầu Đông Ba

Đánh bắt cá; vận chuyển tre, nứa, gỗ; buôn bán, làm thuê

08

Tân Bửu

Trên sông Đông Ba, dưới vạn Phủ Cam; và ở Bến Me trên sông Hương

Đánh bắt cá; buôn bán, làm thuê

09

Lanh Canh

Trên sông Hương, dưới vạn Lợi Thành, gần Đập Đá

Đánh bắt cá

10

Trọng Đức

Trên sông Hương, cạnh vạn Lanh Canh, đầu Cồn Hến, phía phường Vỹ Dạ

Đánh bắt cá; buôn bán, làm thuê

11

Ngư Hộ

Trên sông Hương, cạnh vạn Trọng Đức, đầu Cồn Hến phía Bãi Dâu

Đánh bắt cá

 

(Vị trí phân bố các vạn đò ở khu vực Huế trong giai đoạn 1970-2010 xin xem cụ thể trên bản đồ minh họa kèm theo trong bài viết)

2. Đời sống của cư dân vạn đò tại các khu tái định cư và những vấn đề đặt ra

Trong bối cảnh đất nước Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập, xét thấy không thể tiếp tục để cư dân vạn đò kéo dài cuộc sống lênh đênh trên sông nước, nên từ năm 2004, thành phố Huế xây dựng dự án tái định cư để ổn định cuộc sống cho dân vạn đò, và đến 22/01/2008, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ra văn bản số 117/TTg/KTTH cho phép triển khai dự án. 

Dự án định cư và cải thiện cuộc sống dân vạn đò thành phố Huế là dự án có quy mô khá lớn cả về đầu tư và số lượng hộ dân phải di dời, giải tỏa về khu tái định cư nên hết sức khó khăn, đòi hỏi sao cho phù hợp với nguyện vọng của người dân về cơ chế, vốn, chính sách. Vì vậy, dự án được điều chỉnh nhiều lần, nhằm giải quyết định cư và cải thiện cuộc sống của toàn bộ 1.069 hộ vạn đò và khoảng 7.000 khẩu sống lênh đênh trên mặt nước vào nơi ở mới, phù hợp với khả năng ngành nghề đã có, từng bước đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp. Dự án được triển khai từ năm 2009 với tổng nguồn vốn đầu tư là 260.186.321.000 đồng, trong đó ngân sách Trung ương cấp là 151,3 tỷ đồng, còn lại nguồn ngân sách địa phương và nguồn huy động khác. Có 3 khu tái định cư tập trung được xây dựng quanh thành phố Huế, gồm: Khu tái định cư phường Phú Hậu ở thành phố Huế với diện tích 1,12 ha xây dựng 8 chung cư 3 tầng với diện tích sàn 11.086 m2, bố trí 208 căn hộ; Khu tái định cư xã Phú Mậu ở huyện Phú Vang với diện tích 11,88 ha, bố trí 274 lô đất và 170 nhà liền kề; Khu định cư phường Hương Sơ ở thành phố Huế với diện tích 8,35 ha, bố trí 336 căn hộ liền kề, 5 chung cư bố trí 206 căn hộ.[16]

Một khu tái định cư ở phường Hương Sơ (Photo: NQTT - 9/1/2016)

Để người dân vạn đò có thể thực hiện việc định cư thuận lợi, đối với khu chung cư, thành phố Huế hỗ trợ giảm 15% giá tiền mua căn hộ, phần còn lại được trả góp trong vòng 30 năm, nhưng không tính lãi trong 10 năm đầu. Thành phố không thu tiền đất và toàn bộ hạ tầng vào giá bán căn hộ; ngược lại, các hộ dân không được sang nhượng, thế chấp, cho thuê, góp vốn dưới bất cứ hình thức nào. Đối với các nhà liền kề, hộ dưới 15 người được bố trí 1 căn, Nhà nước giao đất không thu tiền nên cũng không được mua bán, chuyển nhượng. Nhà nước hỗ trợ 15 triệu đồng khấu trừ vào giá trị nhà được giao, phần còn lại (khoảng 39 triệu đồng) thì người dân phải trả dần từng năm một, thời hạn tối đa là 10 năm. Trường hợp các hộ dân nhận đất để tự xây dựng nhà thì được thành phố hỗ trợ 15 triệu đồng, nhưng phải phải làm đúng mẫu nhà theo thiết kế qui định. Ngoài ra, người dân vạn đò sẽ được hỗ trợ phí di chuyển đến nơi ở mới.[17]

Qua 3 năm triển khai dự án, dân vạn đò ở Huế lần lượt được bố trí sinh sống tại các khu định cư ở xã Phú Mậu thuộc huyện Phú Vang, các phường Hương Sơ và Phú Hậu thuộc thành phố Huế. Đến năm 2012, về cơ bản thành phố Huế đã hoàn thành dự án tái định cư cho cư dân vạn đò.

Được lên bờ sinh sống trong những căn hộ  liền kề tại các khu định cư, nhiều người dân đã thể hiện sự cảm xúc cao độ vì đã nhiều đời từ ông, cha, con, cháu bốn, năm thế hệ sống lênh đênh trên sông nước, không được học hành gì, không có chút chữ nghĩa, trẻ em có khi cắp sách đi học nhưng chữ được chữ mất. Giờ đây, họ cũng đã có một nơi ở ổn định, kiên cố, bớt lo lắng chuyện bão lụt, đêm nằm trong căn nhà mới giấc ngủ cũng yên lành hơn, không còn chòng chành như khi ở trên đò, con cái được tạo điều kiện đi học chữ, học nghề. Ai nấy đều nuôi ước mơ cuộc sống sẽ được ổn định, kinh tế gia đình sẽ đầy đủ như dân cư ở trên bờ.[18]

Tuy nhiên, sau thời gian ngắn ban đầu sống trong tâm trạng phấn khởi bởi cuộc đổi đời lịch sử, người dân vạn đò định cư ở Huế đã phải đối mặt với quá nhiều khó khăn, thử thách trong cuộc mưu sinh.

Cái khó đầu tiên là hàng trăm hộ dân vạn đò phải sinh sống trong những ngôi nhà tái định cư tuy vừa mới hoàn thành nhưng đã bong tróc, dột nát do chất lượng thi công của nhà thầu không đảm bảo. Một căn hộ rộng 40mở khu tái định cư Phú Mậu trị giá 65 triệu đồng, trong đó Nhà nước hỗ trợ 15 triệu đồng, còn 50 triệu đồng còn lại gia đình người dân phải trả trong 10 năm, nhưng chỉ sau vài tháng có người về ở, ngôi nhà đã xuống cấp thê thảm. Khi trời mưa, nước từ mái lợp bằng tôn đua nhau chảy vào nhà, tường nhà xuất hiện ngày càng nhiều vết nứt ngang dọc và bị thấm nước nặng, dột chảy tứ bề, nhiều chỗ bị mục rữa, bong tróc loang lổ. Tình trạng này không chỉ một vài căn hộ, mà hàng loạt ngôi nhà tái định cư trong tổng số hơn 320 căn hộ liền kề ở khu tái định cư thôn Lại Tân, xã Phú Mậu đều bị dột, thấm, nứt tường, nền nhà bong tróc, hệ thống điện thắp sáng bị chập cháy, nhà vệ sinh bị ứ nước ngay sau khi người dân vào sinh sống…

Tại khu tái định cư phường Hương Sơ và khu chung cư phường Phú Hậu ở thành phố Huế, nhà tái định cư của nhiều hộ dân vạn đò cũng trong cảnh vừa ở đã rệu rã. Khu tái định cư Hương Sơ có tổng cộng 340 hộ dân vạn đò trên các sông của Huế về sinh sống, được chia thành các tổ dân phố 12, 13 và 14. Toàn tổ 13 có 120 căn hộ liền kề thì hơn nửa số nhà người dân vừa đến ở đã bị dột, thấm, nứt tường, nhà vệ sinh hư hỏng, đường ống dẫn nước bị vỡ… Tại các tổ 12, 14, hàng loạt căn hộ cũng trong tình cảnh nhanh chóng xuống cấp rất tệ hại. Trước những bức xúc của người dân về tình trạng nhà chung cư mới ở đã xuống cấp, chủ đầu tư và đơn vị thi công có tiến hành sửa chữa vài lần, nhưng tình hình không được cải thiện là bao, mà nguyên nhân là do chất lượng xây dựng nhà tái định cư quá kém, nên dù có khắc phục đến mấy thì nhà vẫn cứ hỏng.

Một khu tái định cư ở phường Phú Hậu (Photo: NQTT - 9/1/2016)

Chính quyền địa phương xã Phú Mậu, nơi tiếp nhận công trình tái định cư cũng khẳng định chất lượng các ngôi nhà ở khu tái định cư tại địa bàn không đảm bảo nên dân vừa về ở đã dột nát. Bằng chứng là trong số hơn 320 ngôi nhà tái định cư ở thôn Lại Tân, có 101 ngôi nhà do dân xin tự xây thì chất lượng rất bảo đảm, không có tình trạng xuống cấp như nhà dự án, còn khoảng 220 căn hộ do phía chủ đầu tư xây dựng thì lại xuống cấp nhanh, tuổi thọ của những ngôi nhà tái định cư do dự án xây dựng chỉ chịu đựng được khoảng 10 - 15 năm, nghĩa là khi người dân trả hết tiền nợ nhà thì cũng đến lúc căn nhà không còn có thể ở được nữa. Trước thực tế khó chối cãi này, lãnh đạo Ban Đầu tư xây dựng thành phố Huế giải thích rằng tình trạng nhà tái định cư dột, tường nứt và thấm, nhà vệ sinh hư hỏng là do vốn xây dựng ít, nên phải giảm tối đa chất lượng vật liệu, tôn sau khi lợp nhà lúc nào cũng dột, bụi, tường nhà bị thấm, nứt cũng do xây bằng gạch bê tông loại 15cm thay vì phải 20cm.[19]

Bên cạnh trở ngại về chất lượng nhà ở kém cỏi, một khó khăn khác chi phối cuộc sống tái định cư của dân vạn đò là việc nhiều hộ gia đình đông người phải chen chúc trong một căn hộ quá bé nhỏ, không đủ không gian sống. Tình trạng hai, ba cặp vợ chồng sống chung trong một căn hộ với 10 đến 15 nhân khẩu khá nhiều, có hộ hơn 20 nhân khẩu. Chính sách định cư của UBND thành phố Huế quy định những hộ dân có từ 3 cặp vợ chồng trở lên được cấp hai lô đất (81m2/lô), từ 5 cặp vợ chồng với 20 nhân khẩu trở lên thì được cấp ba lô đất; nhưng trên thực tế, số hộ dân có 5 đến 6 cặp vợ chồng hoặc hơn rất đông, đã khiến khu tái định cư quá tải. Có trường hợp một hộ 6 cặp vợ chồng với 24 người được cấp ba lô đất, chỉ đủ làm nhà cho ba cặp, ba cặp còn lại đành ra dựng chòi ven sông hoặc tiếp tục sống trên đò.[20] Ngay cả các hộ dân có trên 10 khẩu khi lên bờ định cư cũng đều có nhu cầu muốn tách hộ khẩu và có thêm căn hộ để tránh tình trạng 3 - 4 thế hệ với 15 – 20 người cùng chen chúc trong một ngôi nhà chỉ 40m2, tuy nhiên quy định của chính quyền thành phố lại không cho phép tách hộ.

Hai hộ Nguyễn Văn Cu và Nguyễn Văn Sau tại khu tái định cư xã Phú Mậu

sau 5 năm định cư (Photo: NQTT - 9/1/2016)

Tại khu tái định cư Phú Mậu, huyện Phú Vang, vì không đủ không gian sinh hoạt do hộ đông người, nên nhiều gia đình phải ra bên ngoài căn hộ và sống trong những căn chòi bé xíu chừng 5m2 che tạm bằng cái mui tre của con đò cũ, vá víu bằng ni-lông và tôn cũ, dựng rải rác khắp nơi trông rất nhếch nhác ở khu tái định cư và ven bờ sông Hương. Đó là hệ quả của việc phân bổ căn hộ chưa hợp lý của dự án, khi các hộ dân vạn đò trước đó thường chung sống nhiều thế hệ trên một con đò, bao gồm 17 – 20 khẩu của bốn, năm cặp vợ chồng, dẫn đến tình trạng thiếu nhà ở khá phổ biến tại các khu tái định cư.

Nhu cầu được tách hộ, mua thêm nhà đang là mong ước của nhiều gia đình tại các khu tái định cư, song để mua được một căn hộ mới, người dân phải trả trước 30% giá trị căn hộ, tương đương 39 triệu đồng. Ðây là số tiền lớn đối với các hộ dân, nên một số hộ dù đã bốc thăm được mua nhà nhưng vẫn ở dưới thuyền do chưa có tiền nộp. Theo quy định, Nhà nước sẽ hỗ trợ 15 triệu đồng, khấu trừ vào giá trị nhà được giao, phần còn lại được trả góp trong vòng 30 năm, trong đó 10 năm đầu không tính lãi, từ năm thứ 11 người dân trả theo lãi suất được quy định tại thời điểm còn nợ. Tuy nhiên, nhiều hộ vẫn chậm trả tiền do bà con thu nhập quá thấp, không đủ tiền lo cho cuộc sống hằng ngày.

Thực tế này càng khiến tại các khu tái định cư, bên cạnh những căn nhà liền kề nhìn vẻ bề ngoài khang trang là những túp lều tạm bợ được những hộ dân vạn đò lấy từ chiếc mui thuyền của họ để che nắng mưa, làm nhà ở. Dọc nhánh sông đào dẫn ra vùng hạ lưu sông Hương có hàng chục căn chòi như thế mọc lên.

Một góc tận dụng nơi cư trú trên bộ, dưới thuyền tại khu tái định cư xã Phú Mậu

sau 5 năm định cư (Photo: NQTT - 9/1/2016)

Ngoài khó khăn đủ bề về nhà ở, thì sinh kế của dân vạn đò ở các khu tái định cư cũng là một vấn nạn khó vượt qua. Trong thời buổi kinh tế thị trường phát triển mạnh, đòi hỏi người tham gia phải có tư duy, trình độ và chuyên môn nghiệp vụ. Nhưng đa phần cư dân vạn đò vốn ít học, lại không có tay nghề kỹ thuật nào khác ngoài nghề sông nước, nay chuyển lên sinh sống trên bộ nên thường không có nghề nghiệp ổn định, rất khó khăn trong việc kiếm kế sinh nhai. Nhiều người dân trước đây còn đi giăng lưới bắt tôm cá, đạp xích lô, chạy xe ôm; nay về khu tái định cư xa xôi, không có phương tiện đi lại và mất luôn quan hệ làm ăn. Nhiều gia đình bị thất nghiệp triền miên, phải lo chạy từng bữa ăn. Một số người không cam tâm sống cảnh ăn không ngồi rồi, vay mượn tiền mua xe máy, tập chạy xe ôm để trở lại thành phố tiếp tục cuộc mưu sinh; nhưng vì phải di chuyển xa, chi phí đi lại nhiều nên thu nhập cũng không đáng kể.

Tại khu tái định cư Hương Sơ, ban ngày các khu nhà thường vắng hoe vì người dân vào thành phố Huế kiếm sống bằng đủ thứ nghề. Những người thất nghiệp ở nhà thì sinh ra rượu chè, cờ bạc, nợ nần. Nhiều phụ nữ phải lặn lội bờ sông mò tôm bắt ốc bán để kiếm sống, hoặc bán hàng rong ngoài chợ.

Để tìm cuộc mưu sinh, cư dân vạn đò tái định cư làm rất nhiều nghề khác nhau như đánh cá, khai thác cát sạn, lặn tìm cổ vật, lặn tìm phế liệu, lặn bắt cá, làm thuê, bốc vác, phụ nề, đạp xích-lô, chạy xe ôm, lượm chai bao, buôn bán nhỏ, bán vé số, đánh giày, thậm chí làm cả nghề ăn xin, trộm cắp... Tại khu tái định cư các phường Hương Sơ, Phú Hậu, hàng trăm hộ dân vạn đò khi lên nơi ở mới cũng rơi vào tình trạng thất nghiệp, điều kiện sống rất khó khăn. Những năm qua, thông qua đề án đào tạo nghề của tỉnh cùng với mở các lớp xóa mù chữ, tuy đã phần nào tạo việc làm, nâng cao dân trí cho người dân vạn đò tái định cư, nhưng tình trạng thất nghiệp, an ninh trật tự ở những khu vực này vẫn là vấn đề đáng quan tâm.

Điều nhức nhối nhất ở các khu tái định cư dân vạn đò là tình trạng trẻ em thất học quá nhiều. Những thế hệ cư dân vạn đò trước đây thường không biết chữ, thế nhưng nhiều trẻ em khi từ sông nước chuyển lên bờ cũng không được đến trường. Tuổi thơ của trẻ em vạn đò thường rất ngắn ngủi, do cha mẹ của trẻ tuy có ý thức tầm quan trọng của việc học, nhưng phần vì gia cảnh khó khăn, lại chuyển đến môi trường mới, nên không đủ sức lo cho con. Nguyên nhân do quen sống bằng nghề sông nước, đến khi được đưa lên bờ định cư, cha mẹ của trẻ thường không có công ăn việc làm ổn định, không có trình độ, tay nghề kỹ thuật nên chỉ biết bỏ sức lao động làm thuê làm mướn hoặc chạy xích lô, xe ôm, phụ nề..., thu nhập gia đình hết sức bấp bênh, phụ thuộc vào thời tiết, khiến chi phí trang trải cho cuộc sống thiếu đủ bề. Với những nhà đông con và những hộ nghèo, thì đời sống càng khó khăn, nên trong gia đình mỗi người chỉ thay nhau đến trường vài năm rồi nghỉ, còn muốn học, trẻ phải tranh thủ thời gian vừa học vừa làm rất vất vả. Không những thế, trẻ em phải tham gia lao động từ khá sớm, thậm chí những trẻ từ 6 đến 12 tuổi đã làm những việc như đánh bắt cá, đan lồng chim, bán kẹo cao su, bán đậu phộng, bán ốc hoặc vé số ở các nhà hàng. Có một số trẻ em được theo học ở lớp tình thương miễn phí tại khu định cư, nhưng cũng chỉ học một vài lớp là đã nghỉ để đi kiếm sống. Theo số liệu thống kê của phường Hương Sơ năm 2014, khu tái định cư của phường có hơn 500 trẻ em ở độ tuổi dưới 16, học sinh bỏ học hàng năm trên chục em khi lên bậc trung học phổ thông, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp phổ thông thấp. Hầu hết trẻ em ở khu tái định cư đều dành thời gian để phụ giúp thêm trong việc kiếm tiền lo cho cuộc sống của bản thân và gia đình, mới tuổi vị thành niên cũng đã trở thành lao động chính, nhiều em bỏ học đi khỏi địa phương làm nghề may hoặc công việc lao động khác.

Trẻ em tham gia lao động sớm (câu cá) tại khu tái định cư xã Phú Mậu

(Photo: NQTT - 9/1/2016)

Không chỉ khó khăn về nhà ở và phải vật lộn thường xuyên với cuộc mưu sinh, cư dân vạn đò tái định cư còn gặp trở ngại lớn khi hòa nhập với cộng đồng cư dân trên bộ. Dân vạn đò định cư vẫn còn bị thành kiến nặng nề là vô học, thiếu hiểu biết, cục mịch quê mùa, đĩ điếm, lưu manh, trộm cắp và nghèo rớt mồng tơi, không được nể trọng, thậm chí nhiều người không muốn chung sống cùng khu nhà của họ. Vì thế, họ thường chỉ đảm đương những công việc lao động nặng nhọc, thuần túy chân tay và giá trị tiền lương thấp kém.

Tất cả những trở ngại khách quan và chủ quan này đã hạn chế rất lớn đến khả năng vươn lên của cộng đồng cư dân vạn đò ở các khu tái định cư, đặt ra nhiều vấn đề xã hội cần giải quyết. Thực tiễn này đòi hỏi phải có sự quan tâm của nhà quản lý và hoạch định chính sách xã hội và các tổ chức đoàn thể xã hội, để tạo sự tiến bộ cho cộng đồng này trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập.

3. Thay lời kết

Cư dân vạn đò Huế ở các khu tái định cư vốn có một lịch sử hình thành lâu đời và nguồn gốc xuất thân hết sức phức tạp. Tập quán và sinh hoạt văn hóa-tín ngưỡng của cư dân vạn đò khu vực Huế cũng có những nét rất riêng, góp phần tạo nên những mảng màu đa sắc trên sông nước của vùng đất xứ Huế.

Trong quá trình đô thị hóa và hội nhập, cư dân vạn đò ở Huế trong các khu tái định cư đã được chính quyền các cấp tạo điều kiện thuận lợi để chấm dứt kiếp sống lênh đênh, định cư vĩnh viễn trên bộ và có cơ hội hòa nhập vào cộng đồng theo hướng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho mình, giảm gánh nặng cho xã hội.

Tuy quan hệ với người trên đất liền vẫn còn có một khoảng cách chưa thể vượt qua để tiến tới hòa nhập thực sự thành một khối cư dân thống nhất, và những giải pháp định cư từ phía chính quyền chưa thực sự mang lại sự đổi thay toàn diện cho cư dân vạn đò ở Huế; nhưng việc tổ chức tái định cư mang tính lịch sử cho cư dân vạn đò ở Huế hiện nay đã đặt nền móng căn bản cho sự đổi đời của cộng đồng cư dân này.

Mặc dù vẫn còn lắm gian nan trắc trở về nhà ở, môi trường sống, nghề nghiệp, sự phát triển hạn chế của trẻ em, sự hòa nhập vào xã hội hiện đại và tương lai phát triển của cộng đồng; nhưng những giải pháp nhằm nâng cao trình độ dân trí, giải quyết công ăn việc làm, tạo điều kiện bảo vệ tối đa quyền trẻ em, thực hiện công bằng xã hội cho cư dân vạn đò tái định cư sẽ là một đảm bảo cho cộng đồng này vươn lên phát triển một cách bền vững trong tương lai.

                                                                                                                                                   Huế, 01/2016

                                                                                                                                                          NQTT



[1] Sông Lợi Nông còn có các tên gọi khác là Bến Ngự, Phủ Cam, An Cựu.

[2] Nguyễn Quang Trung Tiến (2005), “Quá trình tụ cư khai phá mặt nước của cư dân đầm phá Hóa Châu-Thừa Thiên Huế”, Cố đô Huế xưa và nay, NXB Thuận Hoá, Huế, tr. 85-86.

[3] Nguyễn Quang Trung Tiến (2005), Sách đã dẫn, tr. 89-90.

[4] Nguyễn Quang Trung Tiến (1995), Ngư nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, NXB Thuận Hoá, Huế, tr. 118-119.

[5] Theo Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2009), Địa chí Thừa Thiên Huế, Phần Dân cư-Hành chính, Bản báo cáo nghiệm thu chính thức, Huế, thì dưới triều vua Đồng Khánh tổng Võng Nhi đã tăng lên 16 đơn vị dân cư thủy diện, gồm các thôn Quảng Tế, Trung An, Phụ Quảng, Chánh Quảng, Nghĩa Quán, Hòa Xuân, Trọng Đức, An Thôn, An Thôn Thượng, Kinh Dân, Giang Hồ; ấp Tân Thủy; các giáp Miêu Nha Thượng, Miêu Nha Hạ, Miêu Nha Trung, Miêu Nha Đông.   

[6] Thành uỷ Huế (1995), Sơ thảo lịch sử Đảng bộ thành phố Huế 1945- 1975, Tập II, NXB Thuận Hoá, Huế, tr. 26.

[7] Thành uỷ Huế (1995), Sách đã dẫn, trang 26.

[8] Nguyễn Quang Trung Tiến (2001), “Từ các cuộc cải tổ đơn vị hành chính ở Huế, nghĩ về sự phát triển bền vững đô thị Huế”, Tạp chí Huế Xưa và Nay, số 46, tr. 61.

[9] Nguyễn Quang Trung Tiến (2009),Biến đổi địa giới hành chính đô thị Huế trong hai thế kỷ XIX-XX”, Thay đổi của văn hoá truyền thống ở Thừa Thiên Huế- Tiếp cận từ Nhân loại học và Sử học từ trong và ngoài nước (Song ngữ Nhật-Việt), Viện Nghiên cứu Văn hoá châu Á, Đại học Toyo xuất bản, Tokyo, Nhật Bản, tr. 410-411.

[10] Nguyễn Quang Trung Tiến (1999), “Về cuộc cải tổ hành chính đô thị Huế thời kỳ 1965- 1968”, Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ, Sở Khoa học Công nghệ Thừa Thiên Huế, số 2, tr. 135-136.

[11] Dẫn theo tài liệu thống kê của Phan Hoàng Quý (1992) “Những con đò trên sông Hương”, Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ,  Ban Khoa học và Kỹ Thuật tỉnh Thừa Thiên Huế, số 1, tr. 62, 63 và 69.

[12] Tổng hợp và thiết lập bản đồ từ nguồn điều tra thực tế của tác giả.

[13] Nguyễn Quang Trung Tiến (2009), Sách đã dẫn, tr. 416.

[14] Số liệu lấy theo báo cáo của Ủy ban nhân dân thành phố Huế năm 1995.

[15] Tổng hợp từ điều tra thực tế của tác giả.

[18] Nguồn: UBND tỉnh Thừa Thiên Huế,3/2012, tài liệu đã dẫn.

[19] Nguồn: An Sơn,“Nỗi buồn sau cuộc di dân lịch sử: Tái định cư đến... nhà dột nát”, http://danviet.vn, 11/4/2012.

[20] Nguồn: Đăng Nam, “Cái nghèo đeo đẳng người nghèo”, http://tuoitre.vn, 8/6/2014.

  • Chương trình đào tạo

Ngày 01/10/2012, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Huế (CSSH), thuộc Trường Đại học Khoa học – Đạị học Huế đã tổ chức khai giảng khóa học Tiếng Anh giao tiếp” tại phòng K.101, tầng 1 nhà K, Trường Đại học Khoa học. Tham dự buổi khai giảng có ông Nguyễn Chí Duyên - Trưởng bộ phận đào tạo CSSH, bà Trần Thị Lệ Hằng – Trợ lý phụ trách giáo vụ đào tạo, ông Nguyễn Thanh Tuấn – Giáo viên phụ trách lớp học, cùng tất cả các học viên hiện đang công tác, giảng dạy và học tập ở các khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, bao gồm: Báo chí, Công tác Xã hội, Xã hội học, Đông phương học… của Trường Đại học Khoa học.

  • Dự án phát triển

Sau khi có Quyết định số 1142/QĐ-UBND ngày 06 tháng 6 năm 2011 về việc bố trí, sắp xếp lại nò sáo trên toàn vùng đầm phá Tam Giang tỉnh Thừa Thiên Huế; các đơn vị, tổ chức, hội...đã tiến hành phối hợp thực hiện đồng bộ các nội dung theo Quyết định và theo thực tế từng địa phương. Đến nay, công tác sắp xếp, giải tỏa cơ bản hoàn thành, mọi hoạt động đánh bắt, khai thác của ngư dân đi vào ổn định, quá trình trao quyền quản lý mặt nước cho các Chi hội Hội nghề cá quản lý đã và đang phát huy vai trò và hiệu quả trong việc quản lý nguồn tài nguyên, vùng mặt nước trên đầm phá được giao, nhất là tại các Khu bảo vệ thủy sản.